Bản tin

Thư ngỏ

Kính thưa quý thầy cô cùng đồng môn,

Trước tiên, nhóm hoạt động ái hữu HNC cũng như ban biên tập Bản Tin HNC xin được gửi những lời chúc an lành đến quý thầy cô, đồng môn, trong và ngoài nước, thân kính chúc quý vị sức khỏe dồi dào, gia đạo yên vui, mọi chuyện hanh thông.

Bản Tin HNC lần này đến tay quý vị với buồn vui lẫn lộn.

Kể từ khi Bản Tin số 14 phát hành vào tháng Giêng 2007 đến nay, chúng ta đã nhận được tin thầy Bùi Khắc Lạc thất lộc tại Bắc Cali hồi tháng Ba. Anh em nơi đây đã tổ chức phúng điếu cùng tham dự tang lễ. Sau đó đến tin thầy Thịnh bị tai biến trong tháng Sáu. Thầy cô cùng anh em khắp nơi đã thư từ thăm hỏi, và Quỹ Tương Trợ HNC cũng trích một số tiền chuyển đến thầy. Đồng thời, một môn sinh từ hải ngoại về thăm quê hương đã đến thăm cùng tặng thầy sữa hộp Ensure. Quý thầy Tuấn và thầy Xương thăm viếng Hoa Kỳ trong mùa Hè, Và vào đầu tháng Bảy, môn sinh HNC cùng hai trường Châu Văn Tiếp và Chu Văn An đã tổ chức lễ mừng thầy Hiếu thượng thọ chín mươi tại Bắc Cali.

Mặc dù tin tức thầy cô cùng đồng môn đăng trên các Bản Tin luôn luôn mất thời gian tính, nhưng ban biên tập mong mỏi rằng, chúng ta còn rất nhiều thầy cô, ngay cả đồng môn, vì tuổi tác, hoàn cảnh cũng như điều kiện, không thể trực tiếp thâu nhận tin tức từ trang nhà, qua điện thoại và nhất là thư điện, Bản Tin sẽ là một nguồn tin tức cho nhiều người chúng ta. Ban biên tập luôn luôn chờ đợi tin tức từ quý thầy cô, đồng môn, thân hữu, ngõ hầu có thể loan truyền tin tức đến tất cả.

Ước mong là Bản Tin HNC vẫn còn có thể đóng góp cho tình sư đệ, tình đồng môn ngày thêm bền chặt.

Ngoài ra, trong mấy tháng qua, nhóm hoạt động HNC cũng tu sửa trang nhà www.hongoccan.com với hình thức và nội dung mới để có thể trực tiếp đón nhận tin tức, bài vở từ tất cả chúng ta. Mong quý vị có phương tiện ghé thăm cùng đóng góp ý kiến ngõ hầu trang ngày được thêm phần hoàn hảo.

Ban biên tập Bản Tin Hồ Ngọc Cẩn.

Tin tức thầy cô
Thầy Bùi Khắc Lạc từ trần

Đồng nghiệp cùng môn sinh của thầy Bùi Khắc Lạc đã bàng hoàng khi nhận được thầy Phạm Thư báo cho biết hồi tháng Ba vừa qua:

Các anh thân mến,

Tôi hết sức bàng hoàng và xúc động được cô Lạc gọi điện thoại cách đây vài phút báo tin thấy Bùi Khắc Lạc vừa mất đêm qua.

Hiện các con thầy đang liên lạc với nhà quàn Oakhill nhưng không chắc có được hay không. Cô Lạc nói sẽ đăng trên báo Việt Nam.

Chương trình tang lễ sẽ rất ngắn, hiện dự định là:

Sáng thứ Bảy, Mar 17, 2007 tẩm liệm.

Chiều thứ Bảy, Mar 17, 2007 thăm viếng khoảng 2 tiếng sau đó sẽ hỏa táng vào khoảng 2 hay 3 PM tùy theo thời khóa biểu nhà quàn và nơi thiêu.

Cô Lạc nói sẽ gọi cho tôi hay khi tìm được nhà quàn nào cùng thời khóa biểu rõ ràng hơn.

Nhờ các anh thông báo tin BUỒN này đến đại gia đình HNC.

Phạm Thư

Thầy Bùi khắc Lạc, pháp danh Quảng Tịnh Lạc, mất lúc 6:15 chiều ngày 12 tháng Ba, 2007 (nhằm ngày 21 tháng Giêng năm Đinh Hợi). Thầy huởng thọ 70 tuổi.

Thầy Hồ Văn Hòa, hiện ở tại Sydney đã gửi thư điện như sau:

Thân gởi bạn hữu HNC,

Xin thành thực cảm ơn GS Thư đã cho biết tin buồn về anh Bùi Khắc Lạc. Tôi thực xúc động khi nghe tin này. Trong trí tôi liền hiện ra hình ảnh của một đồng nghiệp ốm ốm và luôn luôn vội vàng.

Tôi lại càng cảm phục anh Lạc khi nhớ lại một bài viết về anh đăng trong Bản Tin HNC năm nào. Một người làm việc cật lực để lo cho con, không màng đến sức khỏe của riêng mình. Đến khi các con đã công thành danh toại cũng là lúc sức mình đã cạn kiệt.

Vì ở xa không đến được để thắp cho anh Lạc một nén nhang và chia buồn cùng chị Lạc và các cháu, tôi chỉ biết xin cầu nguyện cho linh hồn anh được sớm an nghỉ nơi miền cực lạc.

Thân mến,

Hồ Văn Hòa

Và thầy Đỗ Hữu Nghiêm cũng gửi thư điện chia buồn với gia đình thầy:

Thân mến các thân hữu Hồ Ngọc Cẩn,

Chúng tôi được tin thầy Bùi Khắc Lạc qua đời, xin thành thật chia buồn với tang quyến sự ra đi về nơi chín suối của thầy Bùi Khắc Lạc. Ai trong chúng ta cũng sẽ một ngày như thế. Chúng tôi hiệp, nguyện cầu cho anh hồn thầy BKL được tiêu diêu miền cực lạc và chị Lạc và các cháu được nhiều yên vui để chu toàn cử chỉ sau cùng đối với thầy Lạc quá cố.

Thành Kính Phân Ưu

Gia đình Đỗ Hữu Nghiêm/Nguyễn Thị Hiền

Công Cha Nghĩa Mẹ

LTS – Tòa soạn Bản Tin nhận được bài dưới đây từ một giáo sư của trường hồi đầu năm 2002. Bài đã được đăng trong BT HNC 6. Chúng tôi xin được đăng lại bài để tưởng niệm thầy Bùi Khắc Lạc, một vị thầy khả kính, luôn luôn lo toan cho gia đình, học trò của thầy.

Sau nhiều lần hụt đi vượt biên và người cha bị giam cầm vì những lần đi hụt đó, tài sản trong nhà hao hụt dần. Lần cuối cùng người mẹ tìm đến một ông thầy bói mù và xin một quẻ, sau khi đưa ra ngày sinh tháng đẻ thì ông thầy bói khuyên đừng nên trốn đi nữa vì cả gia đình sẽ được đi nước ngoài và được đưa rước hẳn hoi bằng máy bay. Từ đó người mẹ bỏ ý định rời quê hương bằng đường biển.

Năm 1987 cả gia đình được bảo lãnh đi đoàn tụ với bà ngoại ở Mỹ, nhà cửa được cống hiến cho nhà nước. Vì thuộc dạng bảo lãnh nên gia đình không được chính phủ Mỹ giúp đỡ. Hai vợ chồng phải cưu mang 4 người con trong tuổi đi học, vốn liếng không còn bao nhiêu. Thế là người cha và người mẹ bắt đầu lại từ đầu để có một mái nhà, để trả tiền học cho các con ở xa, cuối tuần lại mang thức ăn đến cho các con.

Khởi đầu, năm 1987, hai vợ chồng đi phát báo, có chút ít trợ cấp xã hội nhưng không thấm vào đâu so với nhu cầu của gia đình. Thế là phải tìm thêm việc, đi giao thức ăn buổi trưa cho các xưởng thợ, các văn phòng, một môi trường khó khăn vì cạnh tranh và nhiều vất vả. Người mẹ đem hàng lố về may ở nhà để được thêm 50-60 xu một cái áo, người cha đi rửa xe. Người mẹ làm thử nghề sơn sửa móng tay được hơn một năm thì nghỉ vì không chăm sóc được gia đình. Hai vợ chồng dành dụm để mua xe đi phân phối thức ăn trưa nhưng bị lầm nên thâu hoạch không như dự tính, lại phải bán đi. Lúc bấy giờ cả bốn người con đều học đại học ở xa.

Khi 2 người con ra trường thì người cha lại sinh bệnh tiểu đường và đau dạ dầy. Để nhẹ bớt công việc cực nhọc người cha xin làm việc ở hãng lắp ráp linh kiện điện tử, được vài tháng thì có triệu chứng hay quên gây khó khăn trong công việc. Để tránh phiền phức, người cha tự động xin nghỉ ở nhà. Người mẹ tiếp tục làm nghề nấu ăn thuê. Vì triệu chứng hay quên năm ngoái người cha đi lạc một mình đến hai lần, người mẹ phải nghỉ ở nhà để lo cho chồng. Bây giờ thì cả 4 người con đều đã ra trường và trưởng thành, 2 người làm nha sĩ, 1 người làm bác sĩ và 1 người làm về máy điện toán.

Với sự đóng góp của các con, người cha và người mẹ đã có một cơ ngơi khang trang, tuy sức khỏe yếu nhưng rất hài lòng về gia đình của mình. Người cha và người mẹ hạnh phúc đó chính là thầy cô Bùi Khắc Lạc.

Thầy Thịnh bị tai biến

Hôm 17 tháng Sáu vừa qua, anh Dần, Hội trưởng HAH HNC Bắc Cali đã gửi thư đến anh em trong nhóm hoạt động trên toàn thế giới, báo tin thầy Thịnh bị tai biến mạch máu não. Anh viết:

Hi các anh,

Mới vào D/D HNCLVD thì biết được tin như sau.

Vậy xin nhờ anh Thụy và Duy cố l/l và vào thăm thầy và cho mọi người biết tin.

Nguyễn Mạnh Dần

Kính báo: chúng tôi vừa nhận được tin thầy Vũ Đức Thịnh bị tai biến đang nằm tại bệnh viện Nguyễn Văn Học, khoa tim mạch, lầu 2 phòng 3.1.

Hiện nay thầy bị liệt nửa người, biết nhưng không nói được. Kính mong quý đồng môn các khóa chuyển tin và tổ chức thăm viếng thầy.

Nhóm Liên Lạc Cựu Học Sinh HNC.

Thầy Chu khi được tin báo, đã viết trên thư điện như sau, nói lên sự lo lắng của thầy đối với thầy Thịnh:

Kính gửi quý bạn trong nhóm cựu HS trường Hồ Ngọc Cẩn.

Tôi nhận được email của quý bạn, báo tin thầy Vũ Đức Thịnh bị tai biến mạch máu não. Thầy hiện điều trị tại BV Nguyễn Văn Học Gia Định, khu tim mạch. Tôi vì ở xa, không biết hiện khu này có BS nào quen không. Tôi chỉ có ông bạn quen là BS Nguyễn Chấn Hưng, người gốc Mỹ Tho, trưởng khoa ung bướu, bệnh viện Nguyễn Văn Học. Quý bạn nào biết nhiều bệnh viện này, cứ vào thẳng, nói chuyện với BS Nguyễn Chấn Hưng, để nhờ ông sang khu tim mạch, nơi thầy Vũ Đức Thịnh nằm, giới thiệu với BS trong khu đó giúp. Quý bạn nói thầy Vũ Đức Thịnh là thầy dạy cũ của ông Phạm Nguyễn Chu, trước ở Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho, là có thể BS Nguyễn Chấn Hưng nói giúp. Hay quý bạn tìm em tôi là Nguyễn Phạm Chín, hay Nguyễn Văn Nhân, hiện ở Gia Định, vô nói giúp thử coi, với BS Nguyễn Chấn Hưng. Tuần sau tôi sang Cali mừng thượng thọ Cụ Giáo Sư Nguyễn Đức Hiếu, tôi sẽ lại tìm gặp BS Nguyễn Mạnh Dần để bàn nhiều.

Cám ơn quý bạn.

Phạm Nguyễn Chu.

Anh Thụy, một thành viên trong nhóm hoạt động, sau khi nhận được thư, đã cấp tốc hành động. Sau đó đã trả lời thư:

Thưa quý anh,

Sáng nay tôi sẽ đến bệnh viện Nguyễn Văn Học tham thầy Vũ Đức Thịnh.

Cũng xin thưa là Bác sĩ Nguyễn Chấn Hưng nay là Giám đốc Trung tâm Ung Bướu, là một bệnh viện khác. Có lẽ vì đi xa đã lâu nên thầy Phạm Nguyễn Chu chưa biết tin này.

Trần Khang Thụy.

Đồng thời anh Dần cũng xúc tiến việc trích Quỹ Tương Trợ để gửi về giúp thầy. Anh viết:

Hi các anh,

Như các anh đã rõ về tình trạng sức khỏe của thầy Thịnh. Tôi đề nghị xuất QTT $200 để đến biếu thầy.

Xin các anh vote nhanh và nếu đồng ý thì anh Giang gửi gấp về nhờ Duy hay Thụy mang đến biếu thầy.

Thân

Dần

Một môn sinh khác hiện ở Gia Định, cũng đã cho biết tin tức như sau:

Gia Định ngày 17-6-2007

Các bạn thân mến,

Sáng nay nhận được thư của bạn Dần báo tin thầy Vũ Đức Thịnh đau nặng phải nằm bệnh viện Nguyễn Văn Học, tôi đã điện thoại báo tin các bạn lớp mình, nhưng do không gặp hay các bạn bận việc chưa thể tổ chức cùng nhau đi thăm thầy, chiều nay tôi đã đến bệnh viện thăm thầy.

Con gái thầy cho biết thầy bị tai biến mạch máu não vào 4 giờ sáng thứ Bảy tuần rồi 9-6-2007, đưa vào cấp cứu tại bệnh viện Nguyễn Văn Học.

Thầy đã qua giai đoạn nguy kịch, nhưng nay sức khỏe thầy rất kém: thầy bị liệt nửa người bên phải, không nói được, không thể tự ngồi hay đi lại, miệng cũng bị liệt bên phải không thể nhai thức ăn nên thức ăn phải xay nhuyễn rồi đút cho thầy.

Thầy vui vẻ nhận ra tôi, nghe tôi nói, nhưng không trả lời được, tay phải không cử động được, tay trái cũng yếu nên không viết được để diễn tả ý, khi cố gắng viết vài chữ thầy có vẻ mệt.

Báo tin về sức khỏe của thầy Thịnh để các bạn rõ.

Nguyễn Văn Phương.

Cùng lúc, các anh bên nhà đã xúc tiến việc thăm viếng thầy. Các anh đã tường trình công việc:

Các anh,

Do điều kiện công việc và thời gian nên Duy và anh Thụy không đồng thời thăm thầy Thịnh đúng lúc được, do đó trong chiều ngày 13/7/07,Duy đã cùng anh Nguyễn Hữu Khánh đến thăm và trao thầy Thịnh số tiền 200USD. Sau hơn 10 ngày nằm viện, thầy Thịnh đã trở về dưỡng bệnh tại nhà. Thầy còn uống thuốc và trị vật lý trị tại nhà. Thầy tỉnh táo nhưng kiểm soát chưa chính xác, nói từng tiếng. Thầy nói lời cảm ơn.

Kèm theo hình ảnh thăm thầy chụp chung với cô và có ảnh của anh Khánh trao số tiền 200USD và thư nhóm quyết định số tiền QTT trao thầy.

Riêng số tiền 50USD của thầy Thư chuyển cho cafe HNC cho anh Tín, Duy không có thuận tiện lui tới cafe nên vẫn giữ đây, khi nào thực hiện về số tiền này sẽ báo các anh rõ.

Một môn sinh từ Hoa Kỳ về thăm nhà, khi được tin thầy gặp nạn, đã đến thăm thầy cùng với bạn cùng lớp. Anh tường trình:

Kính thưa các bạn học năm xưa,

Thật là môt sự vinh hạnh cho tôi được anh Phạm Sinh Tồn và anh Trần Văn Ân đã giúp tôi tới kính thăm thầy Thịnh và quý quyến của thầy và cô.

Theo lời chỉ bảo của anh Tồn, tôi có mua sữa Ensure để kính biếu thầy gọi là một chút quà nho nhỏ.

Thầy và cô vui mừng lắm vì tuổi hạc đã cao mà lại có các học trò Thạch, Tồn, Ân đến thăm. Thầy Thịnh không nói ra tiếng và bảo lấy cho thầy cây bút và giấy trắng để thầy viết những gì thầy muốn nói và thầy có ghi rằng:

Cho thầy hỏi thăm tất cả các thầy cô và các em học sinh ở khắp nơi trên thế giới và thầy cũng viết là NHỚ GỞI CHO THẦY NHỮNG BẢN TIN HNC ĐỂ THẦY ĐỌC VÀ THEO DÕI.

Anh em chúng tôi rất xúc động về những giòng chữ vắn tắt của thầy Vũ Đức Thịnh.

Khi từ biệt thầy và cô, tâm tư tôi vẫn còn ghi mãi những hình ảnh đẹp này.

Kính thư,

Thạch râu

Được biết là thầy hiện đang trên đường hồi phục. Mong là Bản Tin này khi đến tay thầy sẽ giúp thầy mau chóng trở lại sức khỏe xưa.

Thầy Tuấn và thầy Xương thăm viếng Hoa Kỳ

Trong tháng Sáu và Bảy vừa qua, thầy Trịnh Văn Tuấn đã viếng thăm Hoa Kỳ. Đồng nghiệp cùng môn sinh của thầy đã đón tiếp thầy tại Nam Cali. Thầy cũng chu du Bắc Cali, tham dự tiệc mừng thượng thọ 90 của thầy Hiệu trưởng Nguyễn Đức Hiếu. Mạng lưới toàn cầu có lẽ sôi nóng với những thư từ thông báo lịch trình chuyến đi của thầy cùng dàn xếp các buổi gặp gỡ. Đồng thời, thầy Xương nhân dịp sang Hoa Kỳ tham dự đại hội Gia Long trong tháng Chín, đã gặp gỡ một số thầy cô cùng môn sinh HNC tại Nam Cali.

Đón mừng thầy Hiếu thượng thọ 90

Quý thầy cô, thân hữu cùng môn sinh ba trường Châu Văn Tiếp, Chu Văn An và Hồ Ngọc Cẩn đã tổ chức tiệc đón mừng thượng thọ 90 của thầy Hiệu trưởng Nguyễn Đức Hiếu tại San Jose sáng ngày 1 tháng Bảy vừa qua.

Hơn hai trăm khách đã vui mừng gặp gỡ thầy cô Hiếu. Mặc dù tuổi hạc đã cao, thầy vẫn trò truyện với tất cả, đã lên sân khấu nhận quà lưu niệm cùng đáp từ.

Thầy Trương Toại đã cho biết thầy là đồng môn, đồng nghiệp và môn sinh của thầy Hiếu, cùng đọc thơ chúc mừng cửu tuần khánh thọ đến thầy.

Đại diện Chu Văn An đã nêu lên cái phẩm của thầy, dạy dỗ không những trí dục mà còn đức dục, và hơn hết là cái tinh thần của người học sinh biết yêu và luôn luôn hướng về tổ quốc.

Đại diện Châu Văn Tiếp kể lại thời gian thầy dạy nơi đây vào cuối thập niên 50, đầu thập niên 60, cùng kể lại nguồn gốc bài thơ Hạ Sơn mà thầy Hiếu tặng ông.

Phần văn nghệ thật là đặc sắc. Nghe đâu chương trình không thể thiếu sự đóng góp thường trực của bộ ba nữ sinh trường bạn Lê Văn Duyệt trong các hoạt động HNC. Ba chị Bích Hợp, Hoàng Nga và Tuyết Trâm đã mở đầu chương trình qua nhạc phẩm Vào Hạ. Đặc biệt là chị Nguyễn Phan Ngọc An, học sinh Châu Văn Tiếp, đã ngâm bài thơ Hạ Sơn của thầy Hiệu trưởng.

Sau hơn 4 tiếng đồng hồ, buổi tiệc mừng phải chấm dứt để nhà hàng đóng cửa. Tình sư đệ, tình đồng môn, tình đồng bào vẫn còn nồng nàn, tha thiết qua những lời chia tay, những ánh đèn chụp ảnh.

Tin tức xa gần

Trang www.hongoccan.com mới

Nhóm hoạt động HNC xin được thông báo và giới thiệu đến quý thầy cô, đồng môn và thân hữu, trang nhà www.hongoccan.com đang được cải tiến.

Ngoài phần hình thức được hoàn toàn đổi mới, trang cũng mang nhiều nội dung khác biệt và đầy đủ hơn. Trang được thiết kế với các chức năng mới sau đây:

o         Sinh hoạt HNC: thông tin, diễn đàn, bài viết.

o         Ghi danh học sinh HNC.

o         Hình ảnh HNC: sưu tập và lưu trữ tất cả hình ảnh HNC từ xưa đến nay. Trang có thể chứa hơn mười nghìn tấm hình.

o         Phim ảnh HNC: phim ảnh cũng có thể cài đặt lên trang như dạng YouTube.

Tíếp tục với chủ trương hiện hữu là không chính trị, không tôn giáo và không đả kích cá nhân, trang HNC là một phương tiện và dụng cụ để chúng ta có nơi để gửi và đọc bài vở, nhằm trao đổi tin tức, thông tin HNC.

Chủ yếu của trang là tự người viết quản lý, tức là nội dung cùng hình thức bài vở do người gửi quyết định cùng chịu trách nhiệm. Nội dung của trang được phong phú hoàn toàn dựa sự đóng góp của tất cả chúng ta, trong cũng như ngoài nước.

Thân chào,

Nhóm hoạt động HNC

Ngày Nhà Giáo Việt Nam

Như thường lệ, môn sinh HNC hàng năm tổ chức Ngày Nhà Giáo Việt Nam ngày 20/11 tại quán Cà phê HNC, quận Phú Nhuận, Saigon. Đồng môn bên nhà đã tổ chức lần đầu tiên từ năm 2001. Ban tổ chức đã hoàn tất việc mời, đón tiếp cùng tặng quà thầy cô, in lịch HNC, và mong mỏi được sự tham dự nồng nhiệt của tất cả đồng môn các năm. Mọi chi tiết xin liên lạc với Ban tổ chức qua số 8442318 hoặc [email protected]

Đón tiếp thầy Tuấn

Nhân dịp thầy Trịnh Văn Tuấn thăm viếng Hoa Kỳ. môn sinh của thầy nơi đây đã liên lạc để tổ chức gặp thầy. Anh Thạch, sau khi nhận được tin, đã vội vàng thông tin lên mạng:

Kính thưa các quý vị,

Hôm nay tôi rất may mắn được thưa chuyện với thầy Trịnh Văn Tuấn, Giáo sư Việt Văn của trường Hồ Ngọc Cẩn. Thầy hiện đang thăm người con trai của thầy tại Texas.

Thầy còn giữ tài liệu học vấn của chúng ta nếu như quý vị muốn biết.

Kính thư,

Thạch Văn Nguyễn

Và anh đã gửi đến thầy thư điện sau:

Kính thưa thầy,

Thấm thoát đã mấy chục năm 1958-1965 tới hôm nay 2007.

Con rất xúc động và vui mừng được thưa chuyện vói thầy. Con thầm cảm ơn thượng đế đã cho con có cơ hội đặc biệt hôm nay, và đã được biết thầy và toàn thể quý quyến được bình an và mạnh khỏe và người con của thầy lại học rất giỏi và đang theo học Cao học về ngành điện tại Texas. Và con xin mến chúc em sẽ được toại nguyện như ý muốn để thầy vui lòng.

Kính thưa thầy, con hiện đang cư ngụ tại tiểu bang Massachusetts với 3 cháu gái và con hiện vẫn còn đang làm việc và hy vọng 5 năm nữa thì con xin về hưu nếu như sức khỏe và công việc còn cho phép. Con sinh năm 1946 và đã ở tiểu bang này từ năm 1975 cho đến hôm nay.

Con xin kính chào mừng thầy đang viếng thăm USA và xin kính chúc thầy mọi sự tốt đẹp như ý thầy mong muốn.

Kính chúc thầy và quý quyến mọi sự an lành và mạnh khỏe.

Nếu như thầy có dịp ghé qua vùng New England, xin cho con biết để sẽ được đón tiếp thầy kính quý của con.

Kính thư,

Học trò của thầy,

Nguyễn Văn Thạch, 1958-1965

Sau khi nhận được thư anh Thạch, thầy Tuấn đã trả lời:

Anh Thạch thân mến,

Tôi rất vui khi nhận được điện thoại của một người học trò cũ đã học với tôi gần nửa thế kỷ, lại càng vui hơn khi được nghe giọng nói của một con người tuổi tác không kém tôi bao nhiêu nhưng đầy tinh thần tôn sư trọng đạo và không thiếu sự gần gũi trong tình cảm. Tôi lại càng xúc động hơn khi nhận được Email của anh với hai tấm hình uy nghi, đạo mạo mà tôi không thể ngờ tới.

Rất tiếc là chúng ta không có dịp đối diện để hàn huyên biết bao nhiêu câu chuyện của gần năm mươi năm đã qua vì đường xá xa xôi, vả tôi cũng không còn điều kiện để đến thăm anh và gia đình. Thôi thì đành để cho duyên đời đưa đẩy, biết đâu chúng ta còn có dịp gặp nhau.

Chúc anh vui khỏe, tiến triển trong công việc và sự nghiệp. Cho tôi gửi lời thăm sức khỏe chị nhà và các cháu. Mong rằng chúng ta còn gặp nhau qua điện thoại hay thư điện tử. Tôi còn nợ anh một tấm hình trên mạng. Khi lên Cali gặp các bạn và chụp hình chung, tôi sẽ nhắc các bạn gửi hình cho anh sau.

Thân mến.

Tương trợ

Tường trình Quỹ Tương Trợ

Quỹ Tương Trợ HNC bước qua năm 2007 nhờ sự giúp đỡ tích cực của các đồng môn quốc nội, nhất là sự yểm trợ của các anh Trần Thanh Duy, Trần Khang Thụy và Nguyễn Trí Tín, nên đạt được nhiều hoạt động hữu hiệu hơn trước.

Chúng tôi xin báo cáo kết quả của 10 tháng đầu năm 2007 như sau:

o         Trong tinh thần tương trợ, Quỹ Tương Trợ đã đứng trung gian quyên góp trong nhóm HNC 58-65 để giúp đỡ đồng môn Nguyễn Mạnh Trưu số tiền 1,850 Mỹ kim để đều trị bệnh ung thư tuyến tiền liệt;

o         Cũng trong tinh thần tương trợ đồng môn, Quỹ Tương Trợ đã làm trung gian kêu gọi anh em nhóm HNC 58-65 phúng điếu đồng môn Nguyễn Thiện Hùng vừa qua đời trong tháng 07/2007 số tiền 200 Mỹ kim để phụ giúp gia đình trong chi phí tang ma cho đồng môn;

o         Đồng môn Nguyễn Mạnh Trưu sau 3 năm điều trị bệnh Ung Thư đã qua đời vào tháng 7 năm 2007. Nhận thấy gia cảnh đồng môn Nguyễn Mạnh Trưu rất eo hẹp, Quỹ Tương Trợ đã làm trung gian quyên góp phúng điếu đồng môn Nguyễn Mạnh Trưu số tiền 600 Mỹ kim để giúp gia đình tổ chức tang ma được chu đáo. Đồng thời Quỹ Tương Trợ cũng xuất ra 50 Mỹ kim để thực hiện vòng hoa phúng điếu đồng môn Nguyễn Mạnh Trưu;

o         Nhận tin cấp báo thầy Giám Học Vũ Đức Thịnh bị tai biến mạch máu não, Quỹ Tương Trợ đã gấp rút gửi về thầy Vũ Đức Thịnh số tiền 200 Mỹ kim để thầy trị bệnh;

o         Quỹ Tương Trợ cũng đứng trung gian để quyên góp gửi về giúp thầy Lê Xuân Khuê số tiền 350 Mỹ kim để thầy vui hưởng tuổi già. Nhóm Hoạt động Ái Hữu Hồ Ngọc Cẩn đã đồng ý sẽ gửi biếu Thầy Khuê số tiền 200 Mỹ kim vào dịp cuối năm Âm Lịch sắp tới.

Tổng kết Quỹ Tương Trợ tính đến cuối tháng 10/2007 như sau:

Kết toán đầu năm 2007               2,066.36 Mỹ kim

Phần quyên góp năm 2007             740.00

Phần chi năm 2007                        259.00

Kết toán cuối tháng 10/2007        2,547.36 Mỹ kim

Tóm lại, mặc dù phần quyên góp vẫn còn rất khiêm nhường, nhưng Quỹ Tương Trợ đã cố gắng vượt bực, để kinh qua nhiều thử thách, làm cho việc tương trợ đạt được những kết quả tốt đẹp như phần báo cáo bên trên. Hy vọng Quỹ Tương Trợ sẽ tiếp tục hoàn tất những sứ mệnh cao cả do thầy cô và các đồng môn giao phó

Thủ Quỹ Trịnh Long Giang trân trọng báo cáo.

Lá thư gửi bạn

Thân gửi anh bạn đồng môn HNC hải ngoại,

Trời bắc bán cầu bắt đầu chuyển sang Thu, những hàng cây thích khoe màu lá, đổi từ xanh đến vàng, đến cam rồi đỏ, trước khi bị gió cuốn bay rơi khắp lối đi. Lướt qua vài trang mạng, tôi lại nghĩ đến quê nhà:

  1. Từ 1955 ở Bùi Chu đến 1975 trở thành Nguyễn Đình Chiểu, trường HNC đã đào tạo hàng nghìn nhân tài hữu dụng cho đất nước và cho xã hội. Rất nhiều cựu học sinh HNC hiện định cư tại nhiều nước trên thế giới đã mang thành đạt trên nhiều lãnh vực và giữ các địa vị quan trọng trong xã hội, cơ quan, chuyên ngành, chính phủ… Nhiều người rất thành công về vật chất, tài chính, ảnh hưởng, chức vụ… tại nơi mình đang ở. Nhưng ngược lại và không may thay, cũng có một phần lớn hơn nhiều HNC đang sống khốn khổ, chật vật với cuộc sống hàng ngày, để lo từ miếng ăn cho gia đình, đến viên thuốc, tiền học phí cho con cái…

Anh và tôi, chúng ta có thể làm trung gian giữa hai thái cực đó, để người có điều kiện có cơ hội chia sẻ với những người thiếu thốn hơn, để người cần giúp đỡ nhận được sự đáp ứng đúng lúc, để người hạnh phúc đùm bọc lấy kẻ bất hạnh. Năm rồi, một anh HNC chưa tròn 50 tuổi đã mất nơi giường bệnh vì thiếu tiền mua thuốc chữa.

  1. Chúng ta phải công nhận những việc làm và cố gắng cũa các cựu HS HNC hải ngoại cũng như trong nước trong vài năm qua đã đem lại rất nhiều hữu ích cho thầy cô và đồng môn về mặt tinh thần lẫn vật chất. Những việc làm này, lớn hay nhỏ , đã mang đến một thầy cô hay một anh học trò tại quê nhà có thể là:

o         một phong bì, một bó hoa, một tặng phẩm;

o         một niềm vui nhỏ, một nụ cười;

o         một tin mừng, một hy vọng, một ý tưởng tự hào;

o         một luồng hơi ấm vào một trái tim lạnh lẽo vì mặc cảm bị bỏ quên;

o         một miếng thịt ngon trên bát cơm trắng;

o         một ly bia cho làn môi cằn cỗi sau những giờ lao động vất vả;

o         một viên thuốc cho căn bệnh hiểm nghèo, một phần tiền chi phí bệnh viện;

o         một vòng hoa phúng điếu cho người HNC ra đi.

Đó là những gì chúng ta đã làm được với khả năng đã có.

  1. Trong lòng mỗi người chúng ta – một người học trò HNC đã thành tài hay thành nhân – mặc dù ai cũng mang một cuộc sống riêng, một nỗi niềm riêng, một hoàn cảnh riêng, một lập trường riêng, nhưng ít nhất chúng ta cũng có một mục đích chung là làm được cái gì để trả ơn thầy cô, học đường và xã hội.

Công ơn giáo dục của thầy cô, không ai có thể quên đươc, như câu phương châm mà ta đã học từ bậc Tiểu Học: “Không thầy đố mầy làm nên”.

  1. Khi đã mang cái mục đích chung đó, chúng ta sẽ thấy con đường phục vụ còn dài, bổn phận và trách nhiệm của chúng ta lúc nào cũng còn (như lời triết lý của cô Dung ngày nào), vì một nơi xa xôi nào đó, bè bạn và thầy cô còn đặt niềm tin, hy vọng vào chúng ta. Cụ thể, chúng ta có thể làm các điều sau đây:

o         Đóng góp vào Quỹ Tương Trợ HNC. Hiện nay Quỹ đang cạn nguồn, chúng tôi kêu gọi sự đóng góp tự nguyện của toàn thể các bạn đồng môn HNC trên toàn thế giới. Quỹ HNC bất vụ lợi, toàn thể số tiền đóng góp sẽ được giao cho thầy cô, đồng môn gặp bất trắc hoặc tình cảnh bất hạnh.

o         Viết thư thăm hỏi thầy cô và chuyển gửi tin tức về Bản Tin HNC. Bản Tin HNC tuy không mang thời gian tính nhưng luôn luôn là một món quà tinh thần có ý nghĩa đến quý thầy cô và đồng môn.

Cám ơn anh,

Một đồng môn.

Chuyện xưa nay

Thầy Hiệu Trưởng

Lời tòa soạn – Một học trò của thầy Hiệu trưởng cách xa vạn dặm đã gửi bài dưới đây đến San José để đọc trong dịp lễ tiệc thượng thọ 90 của thầy. Tuy nhiên, vì thì giờ eo hẹp, ban tổ chức đã không thể đọc ngay trong buổi lễ tiệc. Ban biên tập chúng tôi xin được đăng trong Bản Tin 15 này.

Cách nay đã lâu lắm, vào mùa hè năm 1970 không có lễ “trao phần thưởng” cho học sinh xuất sắc như mọi năm, thay vào đó thầy Hiệu Trưởng tổ chức trại Nối Vòng Tay Lớn với cán bộ Xây Dựng Nông Thôn ở Vũng Tàu. Một buổi nọ có một nhóm học sinh nhỏ bỏ trại đi “lang thang trên đồi non” như trong một bài hát vào thời đó, với cây đàn ghi-ta, cả nhóm đi trên những đồi cát mịn trong một đêm trời trong và đầy sao sáng lấp lánh thật nên thơ. Lớp trẻ vừa đi về hướng sao Bắc Đẩu – ngôi sao đang sáng chói nhất lúc đó – hay là ngồi nhìn những lớp sóng sao trên bãi Dứa: …tôi như là con ốc, bơ vơ nằm trên cát, chui sâu vào thân xác lưu đày (trong “Nha Trang ngày về”).

Cả bọn đêm đó đã bị bắt quả tang, để rồi sáng hôm sau xếp hàng ngay ngắn chờ hình phạt từ thầy Hiệu Trưởng. Cả nhóm học trò phạm tội còn nhớ thầy đã không nói một tiếng nào, đứng trước mặt cả đám, vừa nhìn rất lâu từng đứa một như muốn nói một điều gì, vừa vuốt râu! Chỉ vậy rồi thôi. Không có bất kỳ một hình phạt gì và cả một lời mắng cũng không. Trại lại tiếp tục với cái bồng bột vỡ bờ của tuổi trẻ. Những kỷ niệm thật sâu sắc không thể quên: ăn cơm cát, lửa trại đêm, những đêm không ngủ…

Bây giờ hơn 35 năm đã trôi qua từ cái ngày hè năm ấy, hồi tưởng lại có thể nói là hình như lúc đó thay vì phạt thầy lại gần như đồng lõa với tuổi trẻ qua cái nhìn độ lượng và cách vuốt râu của thầy.

Trong khi đó thầy Hiệu Trưởng đã nhìn đám học trò “nhất quỷ nhì ma” như thế nào. Chúng ta hãy nghe thầy kể:

Tôi vẫn còn nhớ buổi trại “Nối Vòng Tay Lớn” có cả hai ông bà Chi Hoa giúp tổ chức trại (ông bà Nguyễn Chi Hoa hiện nay vẫn còn ở Pháp ).

Tôi cũng còn nhớ các cậu “xé rào”. Tôi cũng định phạt đấy vì theo kỷ luật trại. Nhưng tôi chợt nghĩ lại: hồi còn trẻ, ngồi ghế nhà trường, tôi cũng thế. Khi các cậu về đủ, tôi mừng rồi. Nếu phạt thì sẽ có người vui người buồn, tôi không muốn vậy. Cho nên “vuốt râu” bỏ qua để toàn trại được “vui vẻ cả làng”!

Tuy các cậu “xé rào” nhưng không đến nỗi làm tôi lo nhiều như khi được lệnh Bộ Giáo Dục hướng dẫn một ngàn học sinh khu III đi trại hè Nha Trang. Trong những giờ tắm biển, tôi phải nhờ phi cơ của quân khu Nha Trang bay vòng quanh bãi tắm, dợm chừng các học sinh bơi xa quá giới hạn. Nếu có thì phát thanh bắt họ quay về gần bờ biển. Khi được đủ số trở về Sài Gòn, tôi mới thở được những hơi thật dài thật thoải mái…

Khi ra ngoài thì thầy rất khoan dung độ lượng, nhưng khi về trường thì không ít học sinh Hồ Ngọc Cẩn quên được phòng “roi” với các kích thước lớn nhỏ để nạn nhân có nhiều chọn lựa tùy theo ý thích, roi càng nhỏ thì mũi roi càng đánh đau, mà vào cái tuổi thiếu kinh nghiệm đó thì đa số lại ngại roi to.

Các cựu học sinh bây giờ nhiều người đã bước vào tuổi ngũ thập tri thiên mệnh, con cái đã hoặc đang bước vào tuổi trưởng thành, nhất là với môi trường ở nước ngoài, quan niệm về hướng dẫn dạy dỗ con cái khác nhiều so với hơn 30 năm trước ở quê nhà, bây giờ mới nhớ nhiều đến những lời nhắn nhủ của thầy Hiệu Trưởng dưới mái trường xưa. Tất cả các cựu học sinh, không riêng gì trường Hồ Ngọc Cẩn, đều nhớ đến thầy như một người dẫn đường, một người cha nghiêm khắc nhưng cùng lúc rất cảm thông những trăn trở bâng khuâng của lớp tuổi vừa lớn trong giai đoạn đầy biến động của đất nước.

Chúng ta hãy nghe thầy kể tiếp:

Tôi có nhiều tập lưu niệm của các trường trung học như Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo, Quang Trung, Hồ Ngọc Cẩn, Châu Văn Tiếp… kể cả trường Võ Bị Đà Lạt và các trường tư thục, trong số 20 trường tôi đã được duyên may hướng dẫn về văn hoá.

Trường tôi ở lâu nhất là Trung học Hồ Ngọc Cẩn, từ 1964 tới 1975 (8 năm coi việc trường, 2 năm làm Đặc Khu Trưởng Đặc Khu học chánh Sài gòn – Gia Định, 2 năm làm Thanh Tra Trung Học tại Bộ Quốc Gia Giáo Dục), vẫn được lưu trú tại công ốc của trường vì không có nhà riêng. Sinh vô gia cư. Hiện nay ở nhà do các con mua cho. Sau này cũng sẽ “bất cầu địa táng”.

Trong giai phẩm Xuân HNC Quý Sửu 1973 mà chúng tôi tìm lại được đã có vài hàng nói về thầy như sau:

Thầy Hiệu Trưởng sinh ngày 06-02-1920 tại Hải Dương. Thuở nhỏ theo học với bác ruột và thi vào trường Bưởi năm 1934. Năm 1938 đỗ trung học đệ I cấp, bỏ đệ Tam thi nhảy tú tài I và II. Thầy tiếp tục con đường học vấn ở Đại Học Luật (Hà Nội) và dạy kèm ở các tư gia. Có lần được triệu về làm Hiệu trưởng Trung Học Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hải Dương. Sau đó thầy dạy ở Thanh Miệng và năm 1948 vì nhu cầu công vụ chuyển sang làm thẩm phán tại Hải Dương cho đến năm 1950. Khi Pháp tấn công vào miền này thầy ra Hà Nội dạy ở trường Nguyễn Trãi cho đến năm 1954 khi thầy di cư vào Nam dạy ở Chu Văn An đến năm 1956. Sau xin đổi về trường Trần Hưng Đạo, Đà Lạt. Thầy còn phụ trách môn Việt văn ở trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, Trung học công lập Quang Trung (nay là trường nữ trung học Bùi Thị Xuân), tư thục Vinh Hoa, Bồ Đề, Trí Đức. Năm 1959 thầy thuyên chuyển về Phước Tuy dạy ở trung học Châu Văn Tiếp, sau làm hiệu trưởng tại đó đến năm 1964 đổi về làm hiệu trưởng trường Hồ Ngọc Cẩn và tại đây thầy trải qua một thời gian phục vụ lâu dài nhất là 8 năm 2 tháng. Đến tháng 9-1972 thầy được bổ làm Đặc Khu Trưởng Đặc Khu Học Chánh Sài Gòn – Gia Định.

Lúc nào cũng mang hoài bão giáo dục cho con cái và học trò nên người hữu ích, tạo kiến thức căn bản để giữ gìn đức hạnh, hầu có thể tuỳ theo khả năng giúp nhà, giúp nước. Về tổ chức học đường bao giờ cũng theo một tinh thần trách nhiệm và ý thức kỷ luật. Sáng lập quỹ tình thương Hồ Ngọc Cẩn và đã giúp đỡ được nhiều học sinh nghèo có phương tiện học hành.

Thầy Hiệu Trưởng không quên và luôn luôn tìm cách bảo vệ học trò của mình qua một câu chuyện kể của thầy:

Nên nhớ rằng từ năm 1970 trở đi trường TH HNC có lớp học buổi tối (bán công) từ 6 giờ tới 10 giờ. Có cả nam sinh và nữ sinh. Do đó cũng nên nhắc tới các nữ sinh của TH HNC, nếu chúng ta quên thì họ sẽ buồn đấy. Nói về mấy cô nữ sinh có chuyện kể lại: Vào một buổi tối, mấy tên du đãng vào trường HNC quấy rối và chọc ghẹo nữ sinh. Tôi được anh em báo cho biết và tôi tới để yêu cầu (thật ra là đuổi) chúng ra xa khỏi trường. Chúng ra ngoài và thách tôi ra “chơi nhau”. Tôi ra. Hai tên xông tới tấn công. Tôi đập cho chạy hết. Tôi tưởng rơi mất kính nhờ chú Sáu soi đèn kiếm dùm. Không có kính, chỉ bắt được 4 trăm đồng do hai tên du đãng đánh rơi trong khi tỉ thí với tôi. Tôi cho báo tin đó, cam đoan không trình báo gì cả để cho chúng tới nhận. Chúng không tới. Tôi bảo đem chia cho con các tùy phái, lao công ở trong trường.

Khi thầy Hiệu Trưởng về trường Hồ Ngọc Cẩn thì song song với việc học tập, thầy đã đẩy mạnh các hoạt động thể thao và xã hội, tạo một sinh khí sôi động hẳn lên so với giai đoạn trước, thầy đã đặt vị trí người học sinh hòa hợp với trường sống chung quanh.

Chắc có nhiều cựu học sinh học trường Hồ Ngọc Cẩn vào những năm 1969-1970 còn nhớ, trong sân trường, sau phần cổng vào, có đoạn hành lang mà phía trên là lớp học ở tầng một, nhà trường có trưng hiệu đoàn của trường là hình con đại bàng. Hiệu đoàn này được vẽ lại trong trang chính của trạm www.hongoccan.com. Ở hai bên hiệu đoàn thầy Hiệu Trưởng cho treo hai bài thơ viết bằng phấn trên bảng màu xanh lá cây đậm, bên phải là bài thơ “IF” bằng tiếng Anh của đại văn hào Rudyard Kipling (1865-1936), bên trái là bản dịch qua tiếng Việt của Cụ Lãng Nhân Phùng Tất Ðắc. Hôm nay chúng ta cùng đọc lại cho nhau nghe bản dịch của bài thơ mà thầy vẫn còn cất giữ đến giờ phút này.

Ví con đã trăm lần thủ thắng
Một keo thua, tay trắng về không
Mà lòng lại biết nhủ lòng
Cơ đồ gây lại, oán không một lời.

Ví đường tình, xa nơi rồ dại
Biết nên cương mà lại nên nhu
Chẳng ưa con cũng chẳng thù
Bền lòng tranh đấu, miễn lo việc mình.

Ví có kẻ lòng manh ở ác
Ðem lời con xuyên tạc ra ngoài
Xá chi những miệng dông dài
Riêng con, con vẫn một lời thủy chung.

Ví hòa mình mà không bè đảng
Ðứng làm dân, khuyên gián quyền môn
Anh em bốn biển cho tròn
Tình riêng chẳng để thiệt hơn một người.

Ví lại biết xét coi, học hỏi
Giọng hoài nghi, phá hoại đừng nghe
Ước mơ mà chẳng sa mê
Nghĩ cho nên việc, chớ hề viễn vông.

Ví lấy oai mà không nỡ dữ
Biết gan liền, biết lựa tới lui
Biết ngay thảo với mọi người
Mà không lên mặt dạy đời, ta đây.

Ví con biết vinh thôi lại nhục
Cũng chẳng qua là cuộc hí trường
Biết đem can đảm làm gương
Giữ lòng bình thản, xốn xang mặc người.

Ví theo được như lời ta nhắn,

Thì đế vương, hiền thánh khôn tầy
Vinh quang, hạnh phúc trong tay
Lại hơn được cả điều này, con ơi:

Là: con biết đạo làm người.

Thầy rất thích bài thơ này vì theo thầy đó là phương châm cho cuộc sống, là hoài bão mà thầy Hiệu Trưởng muốn gởi gấm vào lớp trẻ tuổi vừa lớn, làm hành trang để dấn thân vào đời, theo đó mà sống cho “ra con người” như lời thầy nói.

Đó là ao ước mà thầy Hiệu Trưởng chờ đợi ở các học trò của mình trong suốt quá trình hoạt động của thầy. Thế còn ao ước của riêng thầy trong lúc này ra sao? Chúng ta hãy nghe thầy tự trào và kể về những niềm vui của thầy:

86 cái xuân thu rồi, răng đi hết, tóc với râu trắng hết, lại thêm những tật bệnh của tuổi già: tai điếc, mắt mờ, tay run, lưng dưới đau, khó thở, nhức xương gân, chuột rút, tứ tung ngũ hoành, tiểu đường… không biết còn ngồi dai được bao lâu nữa!

Trong nhà có con rể và cháu ngoại là y khoa bác sĩ cùng với nhiều y khoa bác sĩ cựu học sinh nữa mà “chứng nào vẫn tật nấy”.

Tuy vậy mà tôi vẫn hoan nghênh tuổi già, không chán, không ngán tuổi già. Tự thấy như cái khinh khí cầu, cần vất bỏ dần dần những túi cát, cần tháo bỏ dần dần những dây neo thì rồi mới tung bay lên cao được. Bởi vậy từ mấy chục năm trước, từ khi bắt đầu thấy cuộc sống đã làm cho thấm mệt với 4 lần chạy loạn, 4 lần làm lại cuộc đời, cho nên phải tìm hướng đi cho tâm linh, ước mong rằng sau khi thân xác này vào lò thì tâm linh này được về nơi thanh tịnh, bình an, không phải lang thang trong cõi luân hồi nữa, mà lại còn được chăm lo, cứu độ cho chúng sinh thoát khỏi vô minh phiền não, nghiệp chướng đau thương.

Hồi ở Pháp (năm 1979) tôi được chính quyền Pháp cho ở ngay trong thư viện của thành phố Massy. Tôi đọc sách của A. Malraux thấy có câu “Le 21 è siecle sera spirituel ou ne sera pas” (Thế kỷ thứ 21 sẽ là thế kỷ tâm linh hay sẽ không có thế kỷ thứ 21).

Hiện nay tôi đang để hết tâm trí vào vấn đề tâm linh. 86 cái xuân móm rồi! Cũng đã là muộn. Nhưng muộn còn hơn không.

Mong sao các anh chị em cựu học sinh HNC tuổi đã trên dưới 60, nên để ý tới vấn đề tâm linh sớm hơn tôi. Ước mong sẽ có dịp gặp nhau để cùng bàn về vấn đề đó.

Mong thế đấy. Còn được hay không là một chuyện khác!

Hiện nay cái thú của thầy là đọc những thư từ, ngắm những hình ảnh mới của học trò, hoặc chụp riêng, hoặc cùng chụp với gia đình thì càng tốt, để thầy lưu trữ trong kho tàng vô giá của thầy. Đó là kho tàng tình nghĩa, trong lúc tuổi già thường được xem lại thư và hình của những “Tình xưa nghĩa cũ” cho lòng già thêm hơi ấm nhiều hơn”, ở tuổi này thầy chỉ mong có thế mà thôi. Đó là hạnh phúc của một nhà giáo về phần cuối cuộc đời.

“Bao ân tình thuở trước chẳng hề quên,

Khiến người đọc bên đèn sa nước mắt.”

Và thầy đã dặn dò học trò cũ:

Nhưng ngày nay ở nước ngoài, nơi nào có cựu học sinh Trung Học Hồ Ngọc Cẩn thì trường Hồ Ngọc Cẩn được làm cho sống lại và được sợi dây tinh thần tương thân, tương ái, kết nghĩa, kết tình vững chắc. Ðó là điều chúng ta đã được thấy và mong sẽ giữ được như nguyện mãi mãi.

Hôm nay chúng con được dịp quây quần bên thầy Hiệu Trưởng để thay mặt tất cả những thế hệ học sinh mà thầy đã hướng dẫn, gởi đến thầy những lời tri ân tự hình thành trong tâm khảm của chúng con từ khi chúng con dấn thân vào đời. Thầy không những dạy bảo chúng con khi còn ở tuổi thành niên mà thầy còn là ngọn đuốc dẫn đường cho chúng con mãi đến bây giờ. Ngoài 8 người con ruột thịt đang phụng dưỡng thầy cô hiện nay, thầy cô còn có hàng hàng lớp lớp những người con khác ở khắp mọi nơi, vẫn nhớ và nghĩ đến thầy cô với lời cầu chúc thọ chân tình nhất đến thầy cô, hình ảnh thầy cô như bóng mát của tàn cây đại cổ thụ, trải rộng ra để che chở và làm chỗ dựa tinh thần của chúng con mãi mãi.

Xin cảm ơn thầy và cô.

NVD

Học Trò Hồ Ngọc Cẩn Gia Định

Cụ Nguyễn Đức Hiếu và tâm tình của một nhà giáo

LTS. Một môn sinh HNC với sự hợp tác hỗ trợ của Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân và Việt Nam Cộng Hòa đã thành lập đĩa DVD kể lại một câu truyện về thầy Nguyễn Đức Hiếu. Đĩa DVD đã được chiếu trong buổi tiệc chúc thọ 90 của thầy. Ban tổ chức buổi tiệc đã có nhã ý cho phép chúng tôi trích lại câu truyện. Mời quý vị đọc tiếp…

Viện Bảo tàng Thuyền nhân và Việt Nam Cộng Hòa xin được giới thiệu cùng quý vị câu truyện về một nhà giáo và mối tình thầy trò trong nền văn hóa tôn sư, trọng đạo của người Việt. Thật khó cho những trẻ em người Mỹ gốc Việt sau này hiểu được tình thầy trò đó, nếu không có được những câu truyện cụ thể như truyện của cụ Nguyễn Đức Hiếu, một nhà giáo mẫu mực, biểu tượng cho hàng ngàn câu truyện chung về các nhà giáo Việt Nam.

Sinh năm 1917 tại Hải Dương, miền Bắc Việt Nam, cụ Nguyễn Đức Hiếu đã có mộng thành luật sư và đã đi dạy tư từ năm 17 tuổi. Mộng luật sư không thành vì lập gia đình sớm quá như phong tục, tập quán thời ấy. Cụ đã làm thầy giáo từ trước năm 1954, đã từng dạy ở các trường Nguyễn Du, Nguyễn Trãi ở ngoài Bắc. Năm 1954, cụ đã cùng hàng triệu đồng bào miền Bắc phải di cư vào miền Nam để có cuộc sống tự do. Cụ tiếp tục đi dạy học và dạy ở các trường như Chu Văn An, Trần Hưng Đạo, Châu Văn Tiếp, Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, Thánh Mẫu và Hồ Ngọc Cẩn. Đến tháng Tư, 1975, một lần nữa, vật đổi, sao dời, cụ và gia đình bị kẹt lại. Riêng cụ phải tập trung cải tạo, suýt chết trong tù vì mắc bệnh kiết lỵ. Đến tháng Bảy 1979 thì cụ dứt khoát rời Việt Nam bằng đường biển. Chiếc tàu vượt biên nhỏ bé bị hải tặc tấn công, cướp bóc. Riêng cụ, bọn hải tặc dã man đã nhổ hết mọi răng cửa bọc vàng của cụ. Chiếc tàu bị trôi dạt bảy ngày trước khi được một tàu buôn Pháp cứu vớt.

Năm nay đã bước vào tuổi 90, tuy thế, cụ Nguyễn Đức Hiếu trông vẫn khỏe mạnh, và đặc biệt, trí óc  rất minh mẫn. Năm nay, năm 2007, học trò của cụ ở khắp nơi và từ các trường xưa sẽ gửi đến cụ những cánh thiệp chúc mừng sinh nhật 90. Hơn thế nữa, học trò của cụ còn tổ chức một buổi họp mặt để nói về cụ, để tò lòng ngưỡng mộ, và cũng để chứng tỏ tấm lòng yêu mến dành cho cụ.

Tại sao trong số cả trăm ngôi trường, cả ngàn thầy giáo, cụ Nguyễn Đức Hiếu lại nổi bật lên như thế? Có mấy học trò không quý mến, kính trọng thầy cô giáo cũ của mình? Nhưng có mấy thầy cô giáo được học trò nhắc nhiều như nhắc về thầy Nguyễn Đức Hiếu. Lẽ dĩ nhiên là có rất nhiều lý do, và đó là nguyên nhân Viện Bảo tàng Thuyền nhân và VNCH đã chọn câu truyện của cụ làm câu truyện tiêu biểu cho những thế hệ mai sau.

Thầy Hiếu dữ lắm! Học trò thường kể như vậy. Hồi còn làm Hiệu trưởng Trung học Hồ Ngọc Cẩn, thầy hay đi tuần tra các lớp học, tay cầm roi to, mặt nghiêm nghị răn đe những học sinh ngỗ nghịch. Thỉnh thoảng, thầy Hiếu đánh phạt học trò, roi quất vào mông. Đánh từ tầng thứ ba mà tầng dưới cùng còn nghe thấy chan chát. Học trò nghe mà rợn người. Đánh xong, thầy còn cho một bài công dân giáo dục, trò chỉ dạ và cúi đầu mà nghe, không dám hó hé. Nhưng có những chuyện khác cũng thường xảy ra. Có những học trò nghèo quá tìm gặp thầy than thở. Khuôn mặt nghiêm nghị biến mất. Thầy Hiếu chỉ còn có sự ân cần và ôn tồn hỏi han. Thầy hiền từ như một nhà sư. Có khi thầy cùng rơi nước mắt với học trò. Có khi thầy mang trò về nhà cho bữa cơm ăn, cho món quà nhỏ, cho những lời khuyên nhủ, khuyến khích. Thầy trò trở thành cha con, thương nhau hết mực. Thầy kể lại:

Mình thương yêu học trò. Khi mà bắt buộc phải đánh, thì đánh với cái tình cảm là cha dạy con. Đôi khi học trò kể những nỗi khổ riêng của mình, mà cả hai thầy trò cùng khóc.

Sau 1975, thầy vào tù cải tạo gặp lại trò trong tù. Thay cho cung cách đấu tố, thầy Hiếu và người học trò bạn tù lại đùm bọc lấy nhau hơn bao giờ hết. Thầy lâm bệnh nặng gần chết, trò nâng giấc cho thầy, chia sẻ miếng nước, miếng ăn hiếm hoi để thầy còn sức vượt qua cơn bệnh hiểm nghèo. Thầy tâm sự:

Đi học tập thì Thuyết đối với tôi, có khi liều cả cái mạng của mình, như đêm bò sang cái chỗ này, mà không e sợ cảnh sát. Hái được ít rau muống đem về luộc lên để cho thầy ăn. Còn đem cả nước rau muống cho thầy uống. Tôi chưa bao giờ được ăn rau muống ngon như thế.

Không phải thầy giáo nào cũng được diễm phúc trải qua những kinh nghiệm sống thực như thế để biết được tình thầy trò đằm thắm như thế nào. Đó chính là cơ duyên của thượng đế ban cho và thầy Nguyễn Đức Hiếu đã không bỏ lỡ cơ hội thực hiện sứ mạng truyền đạt những câu chuyện làm rung cảm lòng người như vậy. Bất cứ lúc nào được nói, thầy Nguyễn Đức Hiếu luôn luôn dành những lời của mình để ca tụng tình thầy trò trong con người Việt Nam. Thầy tiếp:

Không có gì thú vị bằng học trò của mình đạt được những kết quả về phương diện tinh thần cũng như về phương diện hiểu biết. Cái đó là niềm vinh dự của chúng tôi. Vì thế cho nên có lẽ bây giờ được thọ tới ngoài 90 tuổi. Đó là điều chúng tôi được hưởng, cũng là do phúc của các môn sinh của tôi đã đem đến cho chúng tôi.

Cụ Nguyễn Đức Hiếu không phải là một thánh nhân. Cụ là một người rất bình thường như mọi người. Cụ cũng không có một cuộc đời trên nhung lụa. Nhưng thực sự cụ là một nhà giáo mẫu mực. Đó là điều ai cũng công nhận. Cụ có đến 29 năm dạy học ở Việt Nam, dạy hàng ngàn học trò qua 17 trường trung học, từ Bắc chí Nam. Cụ từng đứng lớp dạy học trực tiếp, từng làm Hiệu trưởng, từng làm Giám Đốc khu Học chánh Saigon-Gia Định, trông coi biết bao nhiêu trường. Không ai thấy cụ cao ngạo bao giờ. Ai cũng biết chắc chắn cụ rất nghiêm nghị. Chẳng thế, lúc mới ngoài 50 tuổi mà đã thường được gọi là cụ. Và cụ cũng biết vai trò mô phạm của mình nên đã để bộ râu trắng từ thuở ấy. Trông rất là một cụ ông lão trượng. Lúc nào cụ cũng muốn làm gương cho học trò. Vì thế, lúc nào cụ cũng học. Đến năm 65 tuổi, cụ vẫn xách cặp đến trường, học xong bằng Thạc sĩ tại Đại học Tiểu bang Sacramento để có phương tiện đi dạy học tiếp. Cụ còn muốn làm gương cho học trò về mối tình trong đời cụ. Khi đã lập gia đình, dù cũng có những lúc không êm ấm, cụ vẫn một lòng chung thuỷ. Thầy thố lộ với cô:

Cái hồi mà bà về làm bạn đường với tôi, bạn đường và bạn đời, lúc bấy giờ có lẽ là tôi không khó tính như bây giờ. Nhưng bây giờ với cái tuổi già, mới thấy rằng cái cuộc đời của mình thỉnh thoảng cũng có những cái tai nạn không thể tránh được. Cái đời của chúng mình cùng sống với nhau đã gặp biết bao nhiêu là những sự khó khăn, biết bao nhiêu là những điều mà mình không có mong ước mà nó lại cứ đến. Cái nỗi khổ mà bà phải chịu chung với tôi, làm gì mà tôi không biết được. Thế nhưng mà đã cùng với nhau thì gặp được cái may. Thí dụ như tôi là thầy thì bà là cô. Tôi là một người cha tinh thần thì bà cũng là người mẹ tinh thần. Tôi cảm ơn bà là về những cái điều là bà đã tiếp đãi học trò của tôi, với cái tinh thần của một cô giáo hay một bà mẹ. Cái đó, tôi không bao giờ quên. Bà nên nhớ như thế. Có lẽ sau này, cái điều tôi ước mong là tôi với bà cùng đi một lúc, để khỏi hoặc bà nhớ tôi hoặc tôi nhớ bà.

Và thầy nói đến niềm hạnh phúc của thầy:

Từ xưa tới nay, thầy vẫn thường nghĩ rằng cái hạnh phúc của thầy, một phần lớn là do các anh em đã đem cho thầy. Và chính thầy cũng biết rằng trong khi thầy dạy học, thầy có những khi cần phải nghiêm khắc, thế nhưng mà trong lúc nghiêm khắc, lòng thầy bao giờ cũng thương mến các học trò của thầy. Có khi thương mến hơn là các con của thầy nữa. Vì thế cho nên, thầy lấy làm hãnh diện về các học trò của thầy đã chịu khó học, không bao giờ để cho thầy buồn phiền hay là đối với thầy thiếu cái niềm lễ độ của một người học trò đối với thầy. Nhiều khi thầy thấy rằng có thể thầy không trọn vẹn được cái sứ mạng giáo dục của thầy, nhưng mà nhờ được cái các anh em thương thầy, có lẽ cũng đã bỏ qua cho thầy. Cái điều đó, thầy cũng cần phải cảm ơn. Vì thế cho nên, các anh, các chị, bởi vì thầy cũng có các nữ sinh, đã cho thầy cái tuổi thọ này. Các anh, các chị đã thương mến thầy, đã không quên thầy, đã hỏi thăm thầy, đã nhớ tới thầy, cái tuổi thọ của thầy là ở chỗ đó. Vậy thì bây giờ thầy xin cảm ơn tất cả các môn sinh của thầy, đã nghĩ tới thầy, làm cho thầy lúc nào nghĩ đến các anh, các em, cũng là những lúc mà có thêm sự sống. Vì thế thầy xin cảm ơn tất cả các anh em đã là học trò cũ của thầy.

Đó là những nét chính về cụ Nguyễn Đức Hiếu, một nhà giáo tiêu biểu về sự mẫu mực, về sự nghiêm khắc khi dạy dỗ học trò, về sự khoan dung, thương mến học trò như con mình, về sự kính trọng đồng nghiệp, về tính nhân bản trong con người, trong nền văn hóa tôn sư, trọng đạo của dân Việt.

Một vị thầy

Thân mến các thầy cô, các quí vị đã làm việc ở trường Hồ Ngọc Cẩn, Gia Định và các anh em học sinh cũ của trường,

Tôi không có năng khiếu làm thơ, nhưng tôi muốn kể lại một kỷ niệm đáng nhớ nhất của tôi với thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Đức Hiếu, nhân Lễ Mừng Thường Thượng Thọ Chín Mươi của thầy:

Tôi nhớ nhất khi đi dạy học môn Sử Địa ở trường HNC, thì cũng là lúc tôi đang làm luận án cao học sử học về “Phương Pháp Truyền Giáo Của Đạo Tin Lành ở Việt Nam” ở trường Đại Học Văn Khoa Sàigòn. Mỗi lần đến trường HNC, tôi đều tranh thủ thời gian gặp thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Đức Hiếu, lợi dụng khả năng đọc hiểu chữ Hán của thầy để dịch giúp tôi một tài liệu tôi xin được ở trong Hội Thánh Tin Lành ở Chợ Lớn, do cụ Mục Sư Vĩ Úc Lương, người Trung Hoa trao tặng.

Dù rất bận rộn công việc điều hành nhà trường và tiếp xúc với các thầy cô trong trường và những vị có công việc liên hệ đến nhà trường, thầy Nguyễn Đức Hiếu đã hết sức giúp mà không nề hà vất vả. Tôi đã có những buổi hẹn ngoài giờ tôi dạy để làm việc riêng với thầy Hiếu, nhưng lúc nào thầy cũng sẵn sàng.

Tài liệu tôi nhờ giúp là cuốn kỷ yếu Tin Lành “Chúa Nhật Châu Khang”, nói về lịch sử cuộc truyền bá Đạo Cơ Đốc của các nhà truyền giáo Hội Phước Âm Liên Hiệp tại Việt Nam cho người Trung Hoa ở Việt Nam.

Tài liệu này rất quí gồm có nhiều bài của các mục sư đã đến Việt Nam truyền bá Tin Lành cho người Trung Hoa ở Chợ Lớn từ năm 1922 trở về sau.

Điều đáng quí gây ấn tượng nhiều nhất cho tôi là thầy Nguyễn Đức Hiếu rất sẵn sàng với hết mọi người và khi đã giúp ai thì giúp một cách tận tình, đến nơi đến chốn.

Ngài đã góp phần đào tạo nên nhân cách và học vấn của tôi, ngay lúc tôi dậy học ở trường HNC. Tôi không bao giờ quên ơn thầy, không phải với tính cách một đồng nghiệp mà như một học trò được thụ huấn với Ngài. Tuổi Trường Thọ của Ngài là thời gian tích lũy những đức tính cao cả nhân nghĩa của thầy, là những năm tháng đầy ơn Trời của thầy. Lễ Thượng Thọ mừng thầy cũng là ngày các học trò đều nhớ: “Không thầy đố mày làm nên” và “Nhất Tự Vi Sư, Bán Tự Vi Sư” và “Tam nhân đồng hành tất hữu ngã sư yên”. Chúng ta là người đi học tất cả ai cũng có một thời gian làm học trò của những thầy dạy ta. Hơn nhau ở chỗ biết ơn những ai đã làm ơn cho mình bằng nhiều hình thức mà mình có thể làm.

Thân ái chia sẻ với tất cả anh em thân hữu,

Ad Multos Annos, thầy Nguyễn Đức Hiếu!

Đỗ Hữu Nghiêm

Chúc thọ thầy

Kính thưa thầy Nguyễn Đức Hiếu,

Kính thưa các quí vị,

Thưa các bạn học năm xưa,

Rất tiếc con không có cơ hội được đến cùng với các quí vị để kính chúc mừng tuổi thọ 90 của thầy, và xin thầy hiểu cho lòng con. Tuy ở rất xa thầy nhưng vẫn luôn nghĩ đến thầy và các thầy, các cô đã dạy dỗ con năm xưa. Và con xin kính tặng thầy 4 câu thơ nhân dịp ngày vui mừng thượng thọ 90 của thầy:

Thầy tôi chín chục tuổi rồi,

Dung nhan xem thật tuyệt vời hôm nay.

Lạy trời ban phước cho thầy,

Sống vui hạnh phúc với trò năm xưa.

Kính thư,

Hoc trò Nguyễn Văn Thạch, 1958-1965

Lá thư từ một trò xưa

Canada, ngày 14 tháng 6 năm 2006

Kính thưa thầy,

Con tên là Trần Thanh-Tịnh, học sinh Hồ Ngọc Cẩn 1961-1968, hiện sinh sống tại Canada. Được biết các bạn cựu học sinh Hồ Ngọc Cẩn tổ chức mừng thượng thọ thầy. Vì đường xá xa xôi không về được, con xin viết đôi dòng kính mừng thầy được đầy đủ sức khỏe. Cầu mong thầy tiếp tục được đầy đủ sức khỏe rất nhiều năm nửa.

Con nhớ những năm sau cách mạng 1963, trường ta rất bất ổn. Khi thầy về làm hiệu trưởng, trường trở nên ổn định. Nếu trường tiếp tục bất ổn thì các con cũng khó học hành và tương lai sẽ vô cùng đen tối, nhất là các con lớn lên trong thời gian chiến tranh.

Trong những năm đó, thầy đã hòa đồng với các con về thể thao, văn nghệ, công tác xã hội hay các lãnh vực khác. Có vài lần thầy theo các con ra sân vận động Hoa Lư, thầy ngồi dựa gốc cây để ủng hộ các con đá banh. Rất bình dị. Khi các con dự sinh hoạt thể thao ở sân vận động Cộng Hòa ra về thì không có xe chở về, vì quá giờ làm việc của tài xế chở học sinh. Tuy thầy có xe riêng của chính phủ, thầy đã không dùng. Thầy đi bộ với các con từ sân vận động Cộng Hòa về đến trường nhà. Đường xa vời vợi.

Thầy đã vận động tòa tỉnh mua cho các con các nhạc cụ. Các cây đũa đánh trống thường bị gẫy vì các học sinh đánh nhiều quá. Thầy vẫn kiên nhẫn đi xin tài chánh để mua. Sinh hoạt báo chí cũng rất sôi nổi.

Từ một trường “khó dạy” sau cách mạng, học sinh trường Hồ Ngọc Cẩn dần dần trở nên gương mẫu về hòa nhã cũng như hữu ích xã hội. Trường Hồ Ngọc Cẩn làm rất nhiều công tác xã hội. Mỗi lần làm công tác xã hội, thầy thường đi ủng hộ. Trường Lê Văn Duyệt chung quanh là sình lầy. Các con e ngại lội xuống. Thầy hăng hái ra tay làm gương cho các con. Cũng cùng thế ấy, khi cần dọn dẹp sạch sẽ cầu tiêu của trường.

Thầy thường dạy các con về đạo đức đối với người thân cũng như đối với các thầy cô. Trong một buổi họp với học sinh, có một anh nói rằng thầy dạy khi thầy cô bịnh, các con nên thăm hỏi. Nhưng khi hỏi các thầy địa chỉ của các thầy cô, đôi khi các thầy cô không cho thì làm sao đi thăm hỏi. Lúc đó thầy nói, nếu xin địa chỉ với lý do chính đáng thì đến gặp thầy.

Sau khi rời trường con đi du học ở Âu Châu. Mấy năm sống một mình xứ người, đối diện với thực tế, con nhớ những lời của cô Nguyễn Lệ Dung dạy trong môn Công Dân Giáo Dục và Triết Học. Năm 1974, con về thăm gia đình. Nhớ ơn cô, con muốn đi thăm, nhưng biết tìm cô ở đâu. Con lên gặp thầy, và thầy làm đúng điều thầy đã nói tám chín năm trước đó. Thầy cho con địa chỉ của cô Dung. Con nhớ ơn thầy.

Con luôn ghi nhớ những việc làm của thầy đã giúp con nên người. Con có một cuộc sống ổn định khi trưởng thành cũng là do công của thầy và các thầy cô khác đã dạy con.

Con thành tâm cầu mong sức khỏe của thầy lúc nào cũng dồi dào.

Kính thư,

Trần Thanh-Tịnh

Một lá thư

Anh G. mến,

Tôi rất đồng ý với anh về quan niệm tình bạn không dựa vào học vấn, bằng cấp, địa vị, mà chỉ dựa vào con người, tư cách của con người đó. Theo tôi quan niệm này có từ hồi tôi còn nhỏ, chứ không phải về già quay đầu và suy nghĩ lại. Nhiều người tôi quen ở VN đồng cắc cũng không có mà tôi vẫn quen, nhiều người chữ bẻ đôi cũng không có mà tôi cũng quen. Tôi quen họ trên địa vị giao tiếp, nhiều người tuy không có học nhưng trường đời họ rất giỏi, tôi có thể học được của họ trong trường đời. Một người chỉ có học vấn ở trường học tôi nghĩ là chưa đủ, cần phải song hành với kinh nghiệm đời sống. Tôi lấy ví dụ khi ở Việt Nam tôi làm hai việc, một là đi làm cho nhà nước (bộ Tài Chính), hai là đi dạy ở Đại học Vạn Hạnh, nhưng nhiều khi để giải tỏa đầu óc trong sự suy nghĩ nhiều quá, tôi thường ra bùng binh Con Rùa (tức là Đài Kỷ Niệm Quốc Tế Trợ Giúp Việt Nam) để xem người qua lại, ăn bò bía, bò khô, và nhất là có dịp nói chuyện với trẻ em bụi đời. Có bữa tôi gặp một em bụi đời, em kể cho tôi tại sao lại bị bụi đời, đời của em. Em kể cho tôi những gì em học ở trường đời. Chúng tôi nói chuyện tay đôi, không kể theo tuổi tác, em không biết tôi có bằng cấp, tôi đang là công chức nhà nước và tôi đang đi dạy ở đại học vì tôi không đề cập đến và không muốn nhắc đến, tôi chỉ nghe em nói và khuyên nhủ em những điều em cần phải làm. Chúng tôi nói chuyện với nhau giống như bạn cũ gặp lại nhau lâu ngày. Cái gì tôi đã học được ở em là biết nhiều về trường đời mà ở cấp đại học họ không dạy, hơn nữa em đã dạy cho tôi cách thoa bóp, một điều mà khi tôi đến những nơi thoa bóp ở Việt Nam, muốn để ý học từ các cô ‘nắn người’ mà không được, nay có người khác chỉ cho mình thật là tuyệt vời.

Đằng khác trong dịp coi thi cho sinh viên ở Đại học Vạn Hạnh, ở trường này sinh viên thi không chỉ thi có một ban mà họ thi chung nhiều ban hợp lại. Bỗng nhiên tôi thấy một anh bạn tôi khi chúng tôi đang học Cử Nhân ở Đại học Văn Khoa, nay bạn tôi là một sinh viên, mà tôi ở địa vị của giám khảo, so sánh địa vị hoàn toàn chênh lệch, nhưng tôi lại làm khác, tôi đứng gần bạn tôi hỏi nhỏ “bồ dạo này ra sao? Tôi có thể giúp gì cho bồ được không”, bạn tôi lúc đó đang thi Pháp văn, hỏi tôi một vài chữ khó, tôi trở lại bàn giáo sư, biên xuống các chữ ấy và đi tới đưa lén cho bạn tôi.

Một điều nữa, sau 1968 sinh viên phải đi học quân sự trong trại huấn luyện Quang Trung, tôi trốn đi ra bãi và khai bệnh, họ cho tôi vào bệnh xá, trong đó tôi gặp được một ‘tướng cướp’ mà Duyên Anh đã mô tả trong truyện “Vết thù trên lưng con ngựa hoang”, hắn nói chuyện với tôi tay đôi, tôi không cho hắn biết học lực của tôi hoặc tôi đang làm gì, tôi chỉ nói chuyện đời với hắn, chúng tôi nói chuyện trong nhiều ngày, trước hắn nói với tôi xưng là anh với tôi sau đó anh với em ngọt sớt. Tôi có khuyên hắn vài điều căn bản và hắn nói “em sẽ giữ mãi những lời đại ca chỉ”.

Về mặt khoa bảng, tôi có dịp nói chuyện lại với bạn cũ của tôi (đề nghị không nói tên) trước đây cùng học Cử nhân và tốt nghiệp Cao Học, và cũng đi dạy ở đại học, riêng tôi tôi chẳng thấy gì khác người khác, mà bạn tôi giọng trịnh thượng đối với người khác, tỏ vẻ mình là người hiểu biết hơn mọi người, nói chuyện toàn là sách vở, phô bầy trí thức. So sánh chúng tôi cùng đậu Cử nhân Giáo Khoa Sử Địa trong 3 năm (cho một học trình 4 năm); cùng học hai trường một lúc, đại học Văn Khoa và đại học Sư Phạm, cùng đi dạy đại học. Chỉ có khác nhau là sau Việt Nam bị mất chính quyền, tiểu luận Cao học của bạn tôi bị bó lại và để xuống đất, còn tiểu luận của tôi được để trên kệ để độc giả tham khảo. Điều khác nữa là bạn tôi chỉ học được 50% trong sự hiểu biết, chỉ học được ở trường học (50%) mà không học được trong trường đời (50%). Trong một dịp khác, trong bữa mừng thượng thọ học giả cụ Nguyễn Khắc Kham, tôi có gặp một anh, anh tốt nghiệp trước tôi chừng hai năm, lúc nói chuyện đặc sệt khoa bảng, vẫn cho mình là giáo sư đại học, chính ra chúng tôi đang hoặc sắp sửa học Tiến sĩ thì bị giải phóng, tuy ở Sài Gòn tính tới năm 1975 tính những người đậu xong Cao học Sử không quá 15 người với số lượng quá hiếm hoi các trường đại học không đủ giảng viên (cho người dạy có bằng Cao học), tuy nhiên không vì thế mà phải tự phụ cho mình là giỏi. Cái giỏi là do mình chứ không phải dựa vào sự khen chê của người khác.

Trước đây tôi có dịp nói chuyện với cụ Kham, cụ là cựu giáo sư ở Văn Khoa, sau đó nghiên cứu và đi dạy ở Nhật, cụ là một nhà nghiên cứu còn sót lại của thế kỷ 20. Ba tôi có học cụ 6 tháng tại trường trung học ở Hà Nội, nhưng tình sư đệ vẫn có (nhất tự vi sư, bán tự vi sư), ba tôi hiện là học trò nhiều tuổi nhất của cụ. Khi gặp cụ ở San José, cụ gặp tôi gọi tôi là ‘ông’, tôi thưa với cụ xin cụ gọi tôi bằng tên thường và nói với cụ là “hồi cháu học ở Văn khoa cháu chỉ mong được học cụ, cháu vẫn mong được cụ bảo trợ Cao học hay Tiến sĩ”. Cụ nói với tôi cụ có đọc tiểu luận Cao học của tôi ở thư viện đại học Berkeley, cụ khen tôi viết rất được, viết ở thời điểm (1820-1840) ít người viết, viết về đề tài ngoại giao lại càng ít người viết. Tôi có nói với cụ “ai khen cháu không thích, nhưng cụ khen cháu thích nhất”. Thật đúng là như vậy, tiểu luận tôi tặng thư viện ở Việt Nam, còn sống sót ở thư viện trong khi các sách của bậc thầy tôi viết về Sử Việt Nam trong thời kỳ Pháp thuộc bị bỏ đi, điều dễ hiểu là khi viết tôi dùng tài liệu đầu tay, chứ không dùng tài liệu của các sử gia Pháp viết. Tôi viết sử trên quan niệm của người Việt Nam yêu nước, viết trên quan điểm này Sử sẽ tồn tại từ đời này qua đời khác mặc dầu thể chế có thay đổi. Mặc dù trong tiểu luận phần nói đầu lý do tôi viết về ngoại giao của Việt Nam ở đầu thế kỷ thứ 19, tôi có đả kích chế độ Cộng Sản ở Việt Nam trước 1954, trong thư viện họ đã khéo léo cắt phần đó đi và để toàn bộ tiểu luận còn lại. Điều tôi viết tới đây đề cập về cụ Kham vì cụ có bằng đại học, cụ là giáo sư đại học, và cụ là nhà nghiên cứu thuần túy. Cụ đọc sách rất nhiều, nghiên cứu rất nhiều, nhưng cụ vẫn khiêm cung đối với mọi người điều này chỉ thấy được những người thật giỏi. Lấy ví dụ Winston Churchill, khi ông bị Quốc hội Anh cho về vườn, ông viết cho nước Anh một bộ sử vĩ đại, hai quyển sách về chiến lược, đánh đàn piano, vẽ tranh. Về vẽ tranh, ông đã viết một quyển sách dạy vẽ tranh và dùng phối hợp mầu sắc như bầy binh bố trận, tức áp dụng chiến lược vào vẽ tranh, vận quần áo rách leo lên mái nhà hàng xóm sửa mái nhà cho họ. Cựu tổng thống Carter có bằng Tiến sĩ Vật lý, giáo sư đại học, khi hết làm tổng thống về nhà đóng một cái ghế ngồi mang ra đấu giá, bán được trên 50.000$ tiền tặng cho hội từ thiện, người ta mua không phải là một tác phẩm nghệ thuật mà là giá trị của lịch sử; có lúc khác ông vận quần áo thường đi đóng nhà cho những người nghèo v…v…

Nói chung, khi tôi tiếp xúc với ngưới khác sự giao tiếp tôi không dựa vào học vấn, địa vị, nhưng tôi lại dựa vào tư cách của người đó. Nếu tư cách vất đi dù là trời tôi cũng bỏ. Địa vị và học vấn sẽ thay dổi theo thời gian, nhưng tư cách vẫn tồn tại trong suốt một đời người. Riêng anh ‘Thạch râu’ của chúng ta tư cách rất đáng khâm phục, ví dụ trong kỳ họp mặt có cô giáo Phượng, anh xưng ‘cô’ với ‘con’ và là người học trò duy nhất có xưng hô như vậy, các bạn đồng học khác chế riễu nhưng tôi lại thấy phục, lý do là anh trọng đạo sư phụ, có trên có dưới, ai cười không ‘care’. Điều khác khi tìm ra tôi, các bạn hỏi anh đồng ý là đúng chưa, anh vẫn nằng nặc chưa cho là đúng, anh cần nhiều sự xác nhận. Việc này trở nên rất căng thẳng, nhưng vấn đề sau khi được xác nhận thì anh đã vui vẻ tự nhận là thua. Riêng tôi không nghĩ là anh thua mà nghĩ là anh được, vì biết mình là thua tức là mình đã được, thắng mình mới là hơn hẳn thắng nhiều địch. Như vậy anh Thạch của chúng ta có nhiều tư cách và nhiều ‘guts’.

Thân nhiều.

NĐC.

Bây giờ chúng tôi mới biết….

Bây giờ bà xã và tôi mới biết co-lét-tê-rôn trong máu không cao và áp huyết không cao chưa chắc là không có vấn đề.

Buổi sáng thứ Hai đầu tiên không phải thức dậy sớm ăn sáng và chuẩn bị để có mặt trong sở trước 6 giờ sáng tưởng chừng như một ngày mùa Thu yên tĩnh. Ăn sáng xong tôi đi xách chiếc thùng nhỏ đi mua xăng và sạc bình cho chiếc xe cắt cỏ và hốt lá. Tuy mới đầu mùa Thu mà lá trong sân cũng đã khá nhiều.

Chưa kịp ăn cơm trưa bà xã than phiền ngực hơi nặng và khó thở muốn hỏi ý có nên gọi cho bác sĩ gia đình không? Có lẽ vì biết bà xã sức khỏe không tốt lắm trong nhiều năm nay và liếc nhìn chiếc túi xách con đã được bà xã bỏ vào đầy đủ mọi thứ tôi không chần chờ nữa.

Vừa vội vàng thay quần áo tôi vừa gọi cho bác sĩ gia đình. Người nhận điện thoại cho biết bác sĩ chưa có mặt nên tôi thông báo sẽ đưa bà xã đến phòng cấp cứu rồi sẽ liên lạc sau.

Người y tá trực tiếp đón chúng tôi như đã quen biết từ lâu “Which one of you is in trouble this time?” (Lần này thì tới phiên ai đây?) Tôi muốn cười nhưng không cười nổi, tháng Ba mới đây bà xã vào nằm mất mấy ngày, tháng Tám thì tôi cũng vào mất hơn một ngày.

Bệnh viện giàu hơn một chút nhờ vào hai đứa tôi trong khi hãng bảo hiểm sức khỏe ăn mừng lớn nếu họ tống khứ được hai đứa tôi qua chỗ khác. Con nhỏ bác sĩ trẻ trông kháu đáo để cho thử máu và đo ECG (tâm điện đồ?) đồng thời cho bà xã uống ngay mấy viên aspirin và nitrate sau khi hỏi qua triệu chứng. Bà xã cho biết lồng ngực bên trái đau như nhói, đổ mồ hôi và trước khi đến bệnh viện thì bao nhiêu thức ăn đều mửa ra hết nhưng bây giờ thì hết đau rồi. Kết quả đều tốt, con bé bác sĩ cho biết, nhưng bác sĩ gia đình của mày ra lệnh giữ lại ít nhất ba ngày.

Bốn giờ chiều thử máu và đo ECG một lần nữa trước khi đưa lên phòng. Buổi chiều bà xã ăn uống nhiều hơn bình thường. Tôi chạy về nhà một chút khi các con tôi vào thay để lấy quần áo ngủ, thuốc uống cho tôi trong đó có cả aspirin.

Buổi tối hai đứa tôi nói chuyện đến khuya, bà xã ngủ không được vì lo còn tôi ngủ không được vì chiếc ghế bệnh viện không thoải mái cho lắm. Mười hai giờ đêm lại thử máu và đo ECG.

Mới thiu thỉu ngủ được một chút thì con y tá đánh thức tôi dậy. Bác sĩ gia đình của bà xã đang xem kết quả máu và ECG, đồng hồ chỉ hai giờ rưỡi sáng. Tôi hơi lo một chút nhưng nhìn mặt bà xã hồng hào không có triệu chứng gì khác lạ. Lại thử máu và đo ECG. Con y tá nói máu tăng nhưng không cho biết thêm là tăng cái gì lên. Ba giờ sáng bác sĩ Nguyễn hấp tấp bước vào. Bà thấy thế nào? Có đau ngực không? Có ra mồ hôi không? Có bị tê tay chân gì không? Sau khi dùng ống nghe tim, phổi ông có vẻ hơi mừng rỡ. Ông nói tôi đi thăm một bệnh nhân trong khu ung thư sẵn dịp ghé đây thăm bà chứ không có gì lạ cả.

Chiều hôm sau bác sĩ chuyên khoa về tim ghé qua cho biết ngày mai sẽ dùng ống để xem bên trong trái tim chúng tôi mới biết sự thật là lúc nửa đêm trái tim có một lúc không lấy đủ máu và thiếu dưỡng khí, nói trắng là lên cơn đau tim hay nhồi máu cơ tim. Vậy mà không một triệu chứng khác lạ ngoài việc đau ngực từ sáng hôm trước.

Bác sĩ Nguyễn nửa đêm phải hấp tấp vào là vì phòng thử máu cho biết bà xã đang bị đứng tim nhưng lúc ông vào khám không thấy triệu chứng nên dấu luôn cho chúng tôi bớt lo.

Trưa hôm sau trước khi làm thử nghiệm bác sĩ giải thích cho bà xã biết sẽ luồn ống có gắn video từ háng lên theo tĩnh mạch thẳng vào tim để xem các van tim. Ông cho biết có thể không có gì phải quan tâm và mất chừng một tiếng đồng hồ.

Gần nửa giờ bác sĩ phụ hấp tấp chạy vào phòng đợi cho biết tôi cần phải nói chuyện với bác sĩ tim ngay. Vào phòng thử nghiệm đã thấy đám y tá chạy lăng xăng nhưng liếc sang thấy bà xã vẫn bình thản tôi an tâm được một chút. Bác sĩ tim cho mở lại video cuộc thử nghiệm chỉ cho tôi thấy một van tim bên trái bị nghẽn hơn 90%. Tao đã chuẩn bị cho xe cứu thương đưa vợ mày lên St. Elizabeth trên Boston vì trên đó có bác sĩ chuyên khoa hơn, vợ chồng mày khỏi lo gì cả, đồ đạc cá nhân trên phòng sẽ được đưa xuống trong vòng vài phút. Ông cho biết đã gởi video lên và đã nói chuyện với bác sĩ tim trên đó.

Trong vòng mười phút tôi ngồi ghế trước với tài xế, bà xã nằm trên băng ca đằng sau với đám y tá. Đây là lần thứ hai tôi đi xe cứu thương, tuy không nằm đằng sau nhưng cái cảm giác thì không thay đổi, cái lo sợ cho những điều không biết trong tương lai. Trước đó tôi chỉ kịp gọi điện cho thằng em cột chèo bằng điện thoại của bệnh viện vì điện thoại lưu động không xài được trong đó, trong xe cứu thương cũng vậy.

Chưa đầy một tiếng sau thì chúng tôi đã có mặt tại khu vực cấp cứu tim sau khi qua một vài thủ tục đơn giản. Gần 4 giờ chiều thì bác sĩ ra phòng đợi gặp hai cha con tôi, thằng con lớn đến khoảng 1 tiếng trước đó, cho biết chỗ nghẽn đã thông và ống đàn hồi đã đặt tại chỗ nghẽn. Aspirin và thuốc loãng máu phải uống tối thiểu là một năm, thuốc giảm co-lét-tê-rôn và thuốc áp huyết phải uống tối thiểu 3 tháng. Tôi thắc mắc áp huyết bà xã 90/55 và co-lét-tê-rôn dưới 200 chưa đủ tốt hay sao? Sau này bác sĩ Nguyễn giải thích rằng dù mỡ và áp huyết thấp nhưng tim đã có vấn đề thì vẫn phải bắt buộc uống thuốc và đo áp huyết thường xuyên.

Ngày hôm sau thì bà xã xuất viện. Bà xã nói may quá nếu bị đau tim tại nhà mà không thấy khác lạ gì trong cơ thể thì làm sao biết được mà điều trị. Điều may mắn khác nhờ thỉnh thoảng có y tá gọi về nhà nhắc nhở các triệu chứng về đau tim chứ đau thoáng qua rồi hết thì bỏ qua không đi bệnh viện thì hậu quả sẽ ra thế nào? Lúc trước có khi hay mệt hoặc khó thở thì cứ đổ thừa tại phổi yếu nhưng có lẽ cũng vì tim mà không biết?

Cóc Tía

Xứ cờ hoa

Cả chục năm nay đã mấy lần sửa soạn đi Mỹ, vừa để thăm bà con, vừa để gặp lại thầy cô, bạn hữu, nhất là từ sau khi nhóm hoạt động HNC được thành lập vào năm 2000. Có các lý do khác nhau khiến những chuyến đi đó phải hoãn. Lần này, vừa để tham dự Đại Hội Hoàng Gia ở Florida, vừa để sang San José tham dự tiệc mừng thượng thọ của thầy Hiệu trưởng Nguyễn Đức Hiếu, rồi sau đó xuống Nam Cali dự họp mặt nhóm 58. Thật là một công đôi chuyện.

Nói các chữ Đại Hội Hoàng Gia cho nghe xôm tụ. Một bà dì vợ nổi hứng vào đầu năm nay, đứng ra tổ chức họp mặt cho lớp choai choai ngoài 60 của những người họ Hoàng thuộc lứa tuổi của bà, cùng với một số bạn bè cùng thời ở Huế. Mình chưa bao giờ gặp mặt họ hàng bên vợ, ngoại trừ ông anh cả của bà xã đã từng xuống miệt dưới thăm đàn em, nên một chuyến đi mà có thể gặp được rất nhiều người bên họ nhà vợ sau hơn 35 năm lập gia đình thì quả thật là lý tưởng. Không những thế, còn có cơ hội gặp lại rất nhiều người một thời liên hệ tới mái trường xưa. Chuyện quan trọng là dàn xếp làm sao để có thể tham dự tất cả trong vài tuần lễ ở Mỹ. Thành ra, chuyến đi này không phải là đi chơi, thăm viếng phong cảnh xứ Mỹ, mà chỉ để thăm mọi người.

Chuyến đi thật đầy kỷ niệm, bắt đầu với khởi hành trễ hơn nửa ngày vì phi cơ hư hại do sét đánh trước khi đáp xuống phi trường. Hơn mười tiếng đồng hồ chờ đợi với hai phiếu ăn trưa và chiều mà không biết khi nào mới khởi hành. Qua đến Đài Bắc lại phải ngủ lại chờ chuyến đi sáng hôm sau. Trễ nơi này thì cũng trễ nơi kia, lại chờ chuyến bay kế từ Los Angeles. Phải về một khách sạn tại đây nghỉ cả buổi chiều để đợi chuyến bay tối đi Tampa. Một kỷ niệm vui với nước Mỹ trong chuyến đi này là được Bộ Cứu Hỏa Los Angeles (LAFD) tiếp đón nồng hậu khi bị kẹt thang máy ở khách sạn hơn 20 phút. Nhân viên khách sạn không mở được cửa thang máy, phải gọi LAFD tới giúp. Một trường hợp hi hữu ở xứ cờ hoa có tiếng là văn minh nhất thế giới này. Rồi họa vô đơn chí, khi trở lại phi trường LAX để tiếp tục chuyến đi Tampa, an ninh phi trường lựa ngay hai ông bà già từ miệt dưới ra lột. Không một cái gì trong người, trong va li mà không bị mở tung, cả người cũng bị rà, bị vuốt, bị dò. Đúng là xứ cờ hoa trong thời điểm khủng bố. Phải mất thêm hơn giờ đồng hồ chờ đợi khám xét, để gần nửa đêm mới được phép tiếp tục bay đi Florida. Bà chủ nhà quá ư bực mình đến gần muốn khóc.

Nhưng được đền bù là hai tuần lễ ở Florida thật thoải mái. “Rể quỷ” họ Hoàng được họ hàng nhà vợ tiếp đón nồng hậu. Từ ông chú, bà o, các anh chị em, con cháu, ai nấy đều thăm hỏi, đưa đi chơi khắp nơi trong xứ Florida. Không những vậy, bà o vợ còn tặng một chuyến du thuyền sòng bài từ Tampa ra khỏi địa phận tiểu bang trước khi các bàn cờ bạc bắt đầu.

Rời Tampa để sang San José vào ngày cuối cùng của tháng Sáu để kịp dự lễ thượng thọ ngày hôm sau. Thành phố San José thật khác hẳn với những nơi nước Úc, bao quanh thành phố là những ngọn đồi trọc, không xanh tươi như bên Việt Nam hay ở Úc, mặc dù Úc đang bị hạn hán trầm trọng, mà tất cả đều mang một màu nâu sẫm. Hỏi ra mới biết là một loại cỏ màu như vậy trong mùa Hạ, sẽ đổi màu khi vào Xuân. Chung quanh thành phố có rất nhiều máy phát điện chạy gió, một phương cách bảo tồn thiên nhiên mà Úc đang nghiên cứu áp dụng thay vì năng lượng nguyên tử.

Sáng Chủ Nhật trước khi đến dự lễ, anh em đồng môn tại đây điện thoại dàn xếp cho người tới đón, mặc dù khách sạn chỉ cách nhà hàng không quá ba cây số. Thoái thác được với lý do là muốn đi bộ từ khách sạn cho biết San José vào sáng Chủ Nhật ra sao. Đúng là sáng Chủ Nhật. Đường phố vắng vẻ, ít xe, người bộ hành lại còn ít hơn nữa. Gần 11 giờ đã tới nơi. Trong nhà hàng mọi người tíu tít sửa soạn cho buổi tiệc. Gặp người này, người kia, cùng phụ giúp việc treo biểu ngữ.

Buổi tiệc mừng thọ bắt đầu rất đúng giờ. Ngót bốn mươi năm trời tôi mới gặp lại một số lớn những người mà tôi thân thiết qua mái trường trung học. Những vị thầy cô dạy mình qua năm tháng, những vị thầy cô mình biết, cùng những thằng bạn vào trường cùng năm, cùng lớp, và những thằng qua các hoạt động trường. Trước khi cất bước qua xứ cờ hoa thăm gia đình, thân quyến, cùng thăm lại thầy cô bạn bè bên đó, lòng hỏi lòng không biết cái con bọ tình cảm trong lòng mình nó còn hoạt động, khơi dậy được những kỷ niệm xưa với thầy cô, với bạn học hay không.

Quý thầy cô

Những vị giáo sư đã để lại nhiều ấn tượng của tuổi học trò nhất là quý cô Ngoạn, cô Phượng, thầy An và thầy Thư. Thầy Thư thì qua mấy năm hoạt động sau này, có liên lạc với thầy qua thư từ, nên khi gặp thầy, thầy trò nhận được ra nhau ngay. Trông thầy không khác chi khi còn dạy ở HNC, mặc dù thời gian, năm tháng đã khiến thầy có da, có thịt, cùng mái tóc đã đôi chút phai màu. Tuy thầy có khác đi, nhưng không thế nào không nhận ra thầy nếu bất thình lình gặp lại thầy. Sau khi gặp thầy tại buổi tiệc mừng thượng thọ thầy Hiếu, thầy cô có mời lại nhà chơi. Tuy nhiên, vì thời gian cấp bách, đã không thể ghé lại thăm thầy cô. Hôm ở tiệc thượng thọ, thấy thầy vẫn rất còn phong độ, nếu lẫn trong đám học trò, chắc chắn chẳng ai dám phân biệt thầy trò. Mà có lẽ trông thầy còn trẻ hơn nhiều trò. Hẳn là vì thầy vẫn còn hăng say hoạt động, không chỉ với công việc sinh sống, mà còn là giáo sư hướng dẫn của Hội Ái Hữu HNC Bắc Cali và nhóm hoạt động HNC trên toàn thế giới. Mong thầy “trường tồn” để nhóm hoạt động luôn luôn có được hướng đi đúng đắn.

Vui nhiều khi được gặp lại thầy Thư thì cũng buồn không ít khi gặp lại thầy An. Mấy tháng trước khi lên đường, nhóm hoạt động loan tin là đã liên lạc được với thầy sau một thời gian tìm kiếm. Thầy chuyển nhà rồi vì tai biến, đã không thể liên lạc với Hội Ái Hữu HNC Bắc Cali. Khi xưa còn đi học, thầy là một trong những vị giáo sư trẻ của trường, tính tình hòa nhã, ít nói. Có lẽ vì vậy mà bị bọn học trò đệ Tam B 58 “gả bán” thầy cho cô Phượng trên lầu ba. Ngay khi gặp lại thầy tại Sydney khoảng đầu thập niên 70, thầy cũng chẳng một chút thay đổi. Nhưng sau hơn 30 năm, khi gặp lại thầy nơi tiệc thượng thọ tại Bắc Cali, thầy đã khác hẳn. Thầy vì tai biến đã phải ngồi xe lăn, nếu không được giới thiệu hẳn không thể nào nhận được ra thầy. Nhớ lại năm xưa, trong lớp bị thầy cho hai quả trứng vịt lộn sau khi thầy kết luận “anh mà dám hỏi vậy à?”, vì dám dơ tay đứng lên hỏi thầy là chữ covered nếu không đọc là cô-vơ-rớt thì phải đọc làm sao. Mặc dù tai biến nặng sẽ mất nhiều thời gian để phục hồi, mong thầy sẽ mau chóng trở lại được bình thường.

Cô Ngoạn thì sau khi rời trường không còn liên lạc. Dưới mắt những học trò nhỏ, cô là một mẫu mực của sự nghiêm khắc, của một kỷ luật nhà binh, với những lời la mắng học trò, khiến học trò sợ cô một mực. Nhưng sợ thì sợ, bọn học trò ngầm đặt cho cô một tên cúng cơm mới, chỉ đổi mẫu tự cuối cùng của tên cô, có lẽ để “trả thù” những khó khăn cô gây cho bọn nhãi trong việc học hành. Hơn 40 năm sau khi học cô, gặp lại ở tiệc thượng thọ, nhận ra được cô ngay. Không biết cô có còn nhớ thằng học trò đệ Lục không chút đặc biệt năm xưa, nhưng trong trí óc của người học trò này, hình ảnh cô đứng trên bục dạy Toán vẫn còn hiện rõ. Được trò truyện với cô, được biết cô hiện để nhiều thì giờ cho tôn giáo. Rồi Nguyễn Mạnh Dần cho biết là sẽ tổ chức vãn cảnh chùa Kim Sơn, có cả cô đi cùng. Không ngờ lại có một cơ hội đặc biệt như vậy. Trên đường lên chùa, cùng với cả ngày thăm viếng chùa, thọ trai, mới biết cái nhìn cùng hiểu biết về đạo Phật của cô thật là bao la. Cái nhìn cùng hiểu biết Phật pháp của cô chẳng phải chỉ gò bó trong tiếng kệ, câu kinh. Ước mong chi được ở gần cô, để cả hai vợ chồng lại được học thêm nhiều ở nơi cô.

Gặp lại cô Phượng sau hơn 37 năm khi xuống Nam Cali dự họp mặt nhóm 58 tại nhà Vũ Trung Hiền. Câu đầu tiên được nghe cô nói khi gặp lại cô là “Định phải không?” Thật là hãnh diện được cô Phượng nhớ tới tên. Chắc tại vì thuở trước là một trong một số nhỏ phá cô quá chừng, hay tại Tết 70 ghé lại thăm cô tại tư gia nơi đường Cao Thắng? Chắc chắn là cô không quên kỷ niệm năm nào nơi lầu ba mà bọn học trò các lớp B “dồn” cô và thầy An. Nhóm 58 Nam Cali đã tổ chức mời cô dự họp mặt nhóm thường niên, mà năm nay là năm thứ hai cô đến. Nơi nhà Hiền, cô rất vui vẻ trò truyện với học trò của cô nơi Gia Định, và học trò Trưng Vương cô dạy sau này. Những kỷ niệm xưa được kể lại, những câu vui đùa, những câu hò, lời hát không thiếu. Cô đã thực sự vui với bọn học trò năm xưa của cô. Bọn chỉ thua quỷ và ma đã tạo cho cô được niềm vui thật sự khi cô đồng ý hướng dẫn hát bài Khỏe vì nước. Rồi tiệc ngày hôm sau tại nhà hàng, cô đã tâm sự cuộc đời của cô, từ khi còn là một thiếu nữ tuổi đôi tám, với một va li tài sản, một mình đi từ Bắc vào Nam. Rồi qua những năm dạy học, qua Hoa Kỳ du học, lập gia đình. Cuộc sống của cô đã có những buồn nhiều hơn vui. Cô đã cho xem một tấm ảnh cô chụp thuở trẻ, mà bọn học trò đứa nào, đứa nấy đều xuýt xoa.

À, còn một người nữa mà tuy không học một ngày nào, nhưng lại nhận thấy cần phải viết ra đây. Đó là “chị Hoàng”. Hẳn chúng ta ai cũng còn nhớ, chúng ta đây không chỉ bọn học trò áo sơ mi, quần soọc, mà còn cả quý thầy ở vào thời điểm đầu thập niên 60, trường có ba cô làm việc tại văn phòng. Đó là cô Nguyên, cô Hoàng và một cô nữa (có lẽ xin cô Nguyên và chị Hoàng nhắc lại tên cho). Bọn học trò thích đi qua đi lại trước cửa văn phòng để “chiêm ngưỡng” các cô, thường hay bị thầy Giám Học Vũ Đức Thịnh rầy la, đuổi về lớp. Đặc biệt là thầy Tổng Kiêm không bao giờ la, chẳng lẽ thầy không biết hay sao! Sau này rời trường, được gặp lại chị Hoàng tại Sydney khi chị đi tu nghiệp. Ở nơi xứ lạ, được bà chị trông nom, thỉnh thoảng đến thăm chị. Rồi đầu 70 về thăm nhà, gặp lại chị tại trường và đến nhà thăm chị. Ngờ đâu sau này lại được tin chị “lập nghiệp” tại Bắc Cali. Điện thoại trò truyện, thăm hỏi thường. Bản Tin HNC khi phát hành, thường là do đồng môn chịu trách nhiệm phân phối đến quý thầy cô nơi địa phương mình. Nhưng trường hợp chị Hoàng lại khác. Chị luôn luôn nhận được một bản in màu, gửi bưu điện nhanh, để có dịp viết đến chị ít hàng. Gặp lại chị nơi tiệc chúc thọ, gặp được cả anh cùng công chúa của anh chị. Thật vui. Thật mừng. Anh không được khỏe, lái xe khó khăn, chị lái xe sợ không biết đường, phải nhờ công chúa bỏ thì giờ về nhà để đưa cha mẹ từ Sacramento xuống San José dự tiệc rồi trở lại nơi làm việc ngay chiều hôm đó. Thật cảm động về mối thân tình của anh chị và cháu. Ngày giờ ngắn ngủi không có nhiều trò truyện với anh chị, mà cũng không thể lên thủ đô Sacramento của California để thăm riêng anh chị. Đành phải khất dịp sau sẽ có nhiều thì giờ mà tới phá nhà anh chị.

Thế mới biết, tiểu học còn quá nhỏ để mà nhận thức được mối tình sư đệ, đại học quá lớn, bận rộn với cuộc sống, chỉ ở trung học, tình sư đệ mới có thể nẩy nở hoàn toàn.

Những thằng bạn xưa

Cái cảm tưởng đầu tiên khi đứng trước chúng nó là thấy rưng rưng. Có thằng tóc đã hai màu, có thằng tóc trắng xóa, có thằng còn lơ thơ vài sợi. Mừng không tưởng là sau nhiều vật đổi, sao dời, lại còn có cơ gặp được bọn chúng.

Những thằng gặp đầu tiên tại Mỹ là bọn thằng Cân, Khánh, Trung, Đức, Phước và Kình. Nghe đâu thằng Kình đã lặn lội, lái xe mười bốn tiếng đồng hồ về San José. Sau đó lại đáp xe đò xuống Los để cùng dự họp mặt 58.

Thằng Cân là cái thằng mà thuở xưa đã cùng nhau hẹn hai thằng Mai Như Ba và Đinh Đức Kính lên sân vận động Gò Vấp choảng nhau, sau đó cả bốn thằng bắt tay hòa cả làng. Nếu vật không đổi, sao chẳng dời, có lẽ giờ đây đã chễm chệ là Hải Quân Đề Đốc chứ đâu chỉ còn giữ cái Cân Thịt Chó làm kỷ niệm một thời hoành hành trên biển Đông. Thằng Khánh thì vẫn như xưa. Có khác chăng là thêm da, thêm thịt, và tóc tai đầy đủ. Được biết là hắn cùng chung cái nghề tay trái là thông phiên dịch. Sau đệ Tứ, Khánh sang Chu Văn An, mà khi gặp lại, mối cảm tình đặc biệt giữa hai thằng vẫn không thiếu. Phải chăng là do sự cạnh tranh học hành thời đó cùng với thằng Nguyễn Văn Khải, mà giờ đây gặp lại nhau, lại trở thành tình bạn mật thiết. Thằng Trung thì thuở xưa đi học không phải lo lắng chuyện di chuyển, nhưng chơi với Trung, đến nhà nó ở đường Chí Hoà nhiều lần. Học hay ngồi gần Trung, có lẽ vì trọng cái việc chăm chỉ học hành của Trung chăng! Gặp lại Trung, kể lại chuyện xưa, đến ba mẹ cùng thằng em của Trung học sau vài lớp. Một chuyện vui lạ là hai thằng Khánh và Trung cùng làm việc với nhau với chính phủ Santa Clara mà mấy tháng sau mới nhận được nhau. Tào Mạnh Đức, xin lỗi Đức vì vẫn nhớ đến thầy Thường, vị thầy đã “đổi tên” nhiều thằng chúng mình, trông thật philôdốp. Cũng dân phá phách, hay ngồi dãy dưới với bọn thằng Chương, thằng Tân. Giờ đây thằng Đức rất quan tâm đến an sinh của bọn ngoại 60 chúng mình. Thật cảm động có thằng lo toan như vậy. Thằng Kình xưa nay vẫn vậy. Vẫn giọng nói như tây say rượu, hi hi. Bà chủ nhà sức khoẻ không có mà dám trốn nhà đi xa nghìn dặm thăm bạn bè. Thế mới biết tình bạn chân thành cao quý làm sao. Gặp nhau tại San José, Kình còn lẽo đẽo leo xe đò xuống Los để gặp lại mấy thằng dưới đó. Không biết còn có dịp nào được gặp lại Kình nữa! Thằng cùng lớp gặp lại ở San José và cuối cùng là thằng Phước ròm. Phước hoàn toàn khác mấy thằng kia. Trong đám đông, Phước rất ít khi xuất khẩu, không ồn ào. Chỉ những lúc ngồi trò truyện riêng, Phước mới nói nhiều, kể nhiều chuyện xưa, những khó khăn phải trải qua trong cuộc sống cũng như học hành. Mừng là sau những năm đầu chật vật nơi xứ lạ, Phước đã an ổn công việc, gia đình, mà chuyện Phước hơn thằng này xa là đã lên chức ông nội, ông ngoại.

Còn mấy thằng nữa ở xứ cờ hoa. Mấy thằng Vinh, Kiệt, Phi, Dũng. Ba thằng Kiệt, Phi và Dũng hình như do thằng Kình chịu khó dò tìm, nhưng tụi nó ít chịu liên lạc bạn bè, nên đành phải tôn trọng quyền tự do cá nhân của chúng nó. Còn thằng Vinh ở bên Virginia, mà chỉ khi sang đến San José mới qua điện thoại trò truyện được với nó nhiều lần. Mong là lần sau đáo hồi tây phương, sẽ gặp đủ, không thiếu thằng nào.

Sau tuần lễ ở San José, xe đò Việt Nam đưa xuống Los. Nghe mấy bà cho biết là xe đò Hoàng chỉ cung cấp một ổ bánh mì thịt trong khi xe đò Việt Nam cung cấp cơm hộp và nước uống, giá lại rẻ hơn. Mấy bà quyết định đi xe đò Việt Nam, lại rủ rê được thêm một số dân Đồng Khánh cùng đi để gặp mặt mấy con yêu bánh nậm và mấy con ngựa Thượng Tứ tại khu Little Saigon. Âu cũng là một dịp được thấy đồng quê xứ văn minh, chứ cứ vù vù đi mây, về gió, bao giờ mới thấy tận mắt cảnh lạ.

Ở ngay tại khu Little Saigon trong thời gian ở Nam Cali. Đường phố trong bản đồ Google thì thấy gần mà dạo phố đi chơi thì thật là xa. Có lẽ vậy mà dân Mỹ, ngay cả Mỹ gốc Việt, ít khi dùng xe lôcachân.

Trong thời gian ở đây, hai vợ chồng ít khi gặp nhau trong ngày, mỗi người lo tranh thủ thời gian để gặp gỡ bạn bè mình. Đây là một điểm thiếu sót nhưng không biết làm sao giải quyết.

Dân cùng lớp ở Nam Cali còn lại những thằng Trường, Hết, Huân, Chân, Hưng. Còn thằng Thuyên học cùng được thêm một năm APM năm xưa, nhưng đã ra đi mấy năm trước. Trong thời gian ở đây, nhắc mấy thằng làm sao liên lạc với gia đình thằng Thuyên để đến thăm mà điện thoại không sao liên lạc được.

Mỗi thằng mỗi tính, nhưng già đầu rồi mà chẳng thay đổi chi cả. Thằng Huân thuở xưa được mệnh danh là khỉ già, bây giờ vẫn vậy, vẫn vui vẻ, đùa cợt, đấu láo, nói không ngưng nghỉ, vẫn lăng xăng, bốp chốp. Thằng Trường thì đạo mạo từ xưa, nay vẫn vậy. Thằng Hưng thì dù nhớ nó rất ít, nhưng khi gặp lại, trí nhớ dần dần trở về mà nhớ lại nó. Thằng Chân ở tận dưới San Diego nên mãi chiều Chủ Nhật mới lên Los dự tiệc 58, mới gặp lại nó. Thằng rất nghiêm chỉnh, đạo mạo, rất tận tuỵ với nghề. Mừng cho nó là hoàn toàn thành công ở đời. Thằng Hết, tục danh thầy Nhét do thầy Thường đặt, rất vui vẻ với triết lý sống để đối đầu với bệnh nan y. Gặp lại nhau ở Los, đi ăn, đi chơi với nhau nhiều ngày thật là vui, thật ưng ý, tin tưởng bệnh tình đã bị đẩy lui, chúc mừng nó cùng hẹn ngày gặp lại. Vậy mà gần đây được tin là nó đã ra đi. Buồn ơi. Cuộc đời thật là vô thường!

Còn chuyện mấy thằng nhóm 58 họp mặt tại nhà thằng Vũ Trung Hiền nữa. Hẹn nhau sớm chiều thứ Bảy tại nhà nó ở Pasadena, có thằng Huân làm tài xế đưa từ quận Cam lên Pasadena thì còn lo gì không tới đúng hẹn. Vậy mà bố khỉ già cậy mình là thổ công xứ Los, bị ba thằng ngồi trong xe chọc quê, đi lạc nên đến Pasadena trễ, trời đã gần tối. Gặp lại các tay nhóm 58 ở đây, hầu hết là từ B3, có một vài từ B1. Đa số những tay đều đã liên lạc trước qua thư điện, qua diễn đàn, nên biết nhau gần hết, không chút bỡ ngỡ, lạc lõng. Lại được gặp nhau qua môi trường chung là cô Phượng, nên những câu chuyện nổ to hơn pháo, vui nhộn hơn Tết.

Bốn tuần lễ qua nhanh hơn bóng câu qua cửa sổ, với biết bao nhiêu gặp gỡ, hàn huyên tâm sự. Nay trở về miệt dưới xa xăm mà tưởng nhớ lại những ngày xưa thân ái cách đây mấy chục năm, mà cố níu kéo lại, cố cầm giữ những hình ảnh, những mối tình sư đệ, đồng môn khăng khít.

Nào ai có tắm hai lần trên một dòng sông!

3D ghi lại.

Tháng Tám 2007

Chuyện bên nhà

Về miền Tây

Xe chuyển bánh rời Sài Gòn khoảng sau 9 giờ đêm. Ban đêm đường vắng xe lướt nhẹ không phải né tránh, máy lạnh thổi luồng gió mát rượi làm tôi thiếp đi được một lúc.

Xe giựt nhè nhẹ khi sắp đến phà Cần Thơ làm tôi giựt mình tỉnh giấc. Có lẽ khoảng nửa đêm thì phải. Giòng sông Hậu ban đêm hiền lành. Năm 1972 HQ-503 đã từng cặp bến Cần Thơ đổ hàng cứu trợ cũng cùng lúc tàu ba tôi đang cặp tiếp tế dầu. Hai cha con tôi kéo nhau lên quán gần đó ăn tối, một trong những dịp hiếm có hai tàu cùng ghé chung một bến.

Tôi liếc nhìn lại hàng ghế sau trên đó thằng con út đang ngủ ngon lành. 35 năm lịch sử lập lại tuy có hơi thay đổi chút ít làm tôi có chút ngậm ngùi liên tưởng đến người cha vắn số mất đi trong lúc anh hai tôi và tôi còn nằm trong tù cải tạo.

Không ngủ được nữa, tôi đổi lên hàng ghế trước ngồi tán dóc với chú tài xế trẻ. Tôi ghé Cần Thơ lần chót khoảng năm 1974 cùng đi với Bùi Quý Viêm. Một phần là ban đêm, phần khác là đã qua hơn 33 năm rồi cho nên không còn nhận được một chút quen thuộc nào. Từ đó qua Cái Răng dọc xuống Sóc Trăng, Bạc Liêu hoàn toàn lạ hoắc đối với tôi. Ba giờ sáng tôi nói tài xế chạy một vòng vào Bạc Liêu kiếm chút cà phê và thức ăn sáng nhưng loanh quanh hơn 15 phút chỗ nào cũng lắc đầu chưa mở cửa. Đành trở lại quốc lộ vừa chạy vừa kiếm quán ăn vậy. Cho đến gần 5 giờ sáng mới thở phào thấy đèn sáng trưng phía trước, hàng quán mở dài hai bên đường. “Đến chỗ cha Diệp rồi đó”, chú tài xế nói nhỏ. Mấy đứa cháu ngủ đằng sau đã thức hết rồi, có lẽ vì đi cả đêm đói bụng và cần đi vệ sinh. Thôi thì ghé qua làm chuyện cần thiết rồi ăn sáng cái đã rồi tính.

Quán nhỏ bình dân chỉ có hủ tiếu, mì gói, cà phê. Thằng út và tôi ăn ngon lành có lẽ vì đã quen mì gói dài dài ở nhà, mấy đứa cháu lớn lên ở Sài Gòn ăn hàng toàn quán ngon cho nên chỉ vài đũa cho đỡ đói rồi thôi. 6 tô hủ tiếu mì gói, 6 ly cà phê đá chưa tới 4 đô la làm thằng út ngạc nhiên tại sao mà giá bình dân dữ vậy cà.

Bên phía nhà thờ cha Diệp khói bốc lên nghi ngút đánh thức sự tò mò của tôi. Đứa cháu dâu giải thích đây là nơi thờ cha Diệp rất là linh thiêng cho nên thiên hạ đến cúng vái cầu xin rất đông. Hèn chi xe đò tấp vào đổ bà con xuống nườm nượp. Cả bọn rủ nhau qua đó mua vài bó nhang và một hoa tươi để thằng út và tôi sẵn dịp cầu xin cho mẹ nó được nhiều sức khỏe. Khoảng dành riêng thờ cha Diệp rộng đủ chỗ cho hàng trăm người đến cúng vái. Cạnh đó là nhà thờ rất lớn đang xây dở dang, phía bên kia là khu vực nhà thờ cũ mấy tầng khang trang.

Dù chỗ cắm nhang rất lớn nhưng tìm được một chỗ trống để cắm bó nhang cũng khá khó khăn. Những ngọn nến trắng sáng leo lét nằm cạnh chiếc bàn dài đang bày sẵn con heo quay bóng lưỡng cùng nhiều món ăn khác. Bên trong thiên hạ đứng chen nhau, kẻ khoanh tay, kẻ cúi đầu lẩm bẩm cầu nguyện. Một vài người lách lên khi có chỗ trống để có dịp rờ hay hôn tay chân tượng cao bằng người thiệt để lấy cái hên.

Ngồi nhìn thiên hạ một lúc nữa rồi chúng tôi lên xe tiếp tục đi về Cà Mau. Đường chỗ rộng chỗ hẹp, chỗ trải nhựa, chỗ còn đang sửa đầy bụi đất đỏ. Những địa danh xa lạ. Tắc Vân hay gì gì đó lướt qua. Đất nước mình mà sao xa lạ quá! Ghé ngang nhà bạn thằng cháu rửa sơ cái mặt rồi cả đám kéo nhau ra chợ Cà Mau.

Thiên hạ buôn bán tấp nập nhưng thằng út chỉ chú ý tới những cái lồng bán chim, chuột, trăn, rắn mà thôi. Tôi thách nó có dám ăn thịt chuột thì chút nữa mua vài con vê rô ti. Không ngờ nó lì thiệt, xề lại tính mua vài con chuột về ăn nhưng con cháu dâu la làng chói lói nên thôi. Chuột đồng Cà Mau con nào con nấy mập ù, lông đen mướt, nướng hay rô ti thì hết biết luôn. Hồi ở tù trại Long Khánh ban đầu còn sợ, sau sáu tháng túng quá chuột cống còn ăn được mà. Bà xã gọi điện qua nói mua một mớ tôm kho, khô cá tra hay khô cá sặt nghe anh, sẵn mua cho má mấy ký luôn nha. Chủ tiệm nói cứ đi chơi vòng vòng cho vui đi chút nữa tui giao hàng tại nhà luôn, ừ như vậy cũng tiện.

Đến bờ kinh thằng út đòi mướn xuồng đi một vòng. 6 người chạy một tiếng qua chợ nổi chỉ tốn 6 đô cũng rẻ thôi. Mấy đứa con gái trẻ bận đồ bộ ngồi rửa chén sau nhà coi khá ngộ, thằng út phê bình. Dân chợ Cà Mau lai tàu trắng như bông bụp chứ đâu phải dân đồng phơi nắng dầm mưa hay lai Miên mà đen như bùn. Chỉ những đống rác lượn lờ theo dòng nước nó hỏi nước sông dơ như vậy mà xài cho bao nhiêu việc làm sao tránh được bệnh tật. Lúc ở Kà Tum đi rừng chặt cây uống nước hố bom cũng chưa có chết mà.

Về đến nhà người bạn đã thấy mâm đầy thức ăn. Lần đầu tiên thưởng thức món cháo cá đậu xanh béo ngậy thơm phức không thể nào diễn tả hết được cái ngon của nó. Những con sò huyết no tròn nướng vừa chín tới không còn mùi tanh của bùn mà cũng không còn màu đỏ tươi đáng sợ. Cua đồng đang mùa ngậm trứng rang muối thịt ngọt ăn hoài không biết chán. Giá mà thêm chuột đồng rô ti thì mới đủ bộ, tôi chọc làm con cháu dâu la làng, dượng nói nữa chắc con ói ra hết đó.

Buổi chiều ghé ngang Sóc Trăng mua vài cái bánh pía cho mẹ, ăn tô bún mắm. Buổi tối ghé qua Mỹ Tho ăn món cháo lòng, cơm chiên cá mặn và lẩu cá bông lau. Về đến Sài Gòn cũng quá 10 giờ đêm, mệt mỏi nhưng thú vị. Tôi tự hứa đây chỉ là màn giáo đầu, sau nầy nhứt định mỗi nơi phải ở vài ngày mới thưởng thức hết những đặc sản của miền Tây. Rồi mới nhớ là vẫn chưa có dịp thưởng thức vọng cổ miền Tây, thiệt là một thiếu sót lớn lao.

Saigon

Đằng sau cái lộng lẫy giả tạo là những khu lao động bùn lầy nước đọng, những khu vực bị chìm dưới sông Sài Gòn những lúc triều cương. Ngay cả những ngày nắng khô ráo nhưng gặp triều cương thì những khu vực như Bà Chiểu, Bình Thạnh, Quận Tám, Xa cảng miền Tây, dân chúng đua nhau đặt lờ hay giăng lưới bắt cá trên đường phố. Khu sang trọng thuộc Quận 1, 2, 3 tiến theo đời sống văn minh mới thì những khu vực còn lại tiến theo tỉ lệ nghịch. Những ngày mưa lớn thì người dân khu phố và người đi đường càng khốn khổ hơn với nạn lụt. Chỉ những kẻ quyền thế ngồi chễm chệ trên xế SUV cao ráo mới không cảm nhận được cuộc sống thực của người dân. Chỉ khi nào sự tiến bộ về kinh tế nhỏ giọt xuống đến dân lao động và Sài Gòn không còn những khu ổ chuột tập thể khi ấy Sài Gòn mới thực là đẹp theo đúng nghĩa. Bây giờ chỉ là những postcard quảng cáo mà thôi vì đằng sau những cao ốc lộng lẫy là những đống rác hôi hám bốc mùi.

Những Khuôn Mặt Cũ

Thanh hẹn gặp tôi tại một quán ăn đường Phạm Văn Hai vì tiện đường cho cả đôi bên. Từ nhà mẹ tôi cho đến quán ăn có lẽ bằng khoảng đường từ hãng Thanh đến đó. Lê Đức Thông cuối tuần bận đi xa nên hẹn lần tới sẽ gặp nhau.

Ngoại trừ trông già hơn trước và hơi mập ra, Nguyễn Ngọc Thanh không thay đổi chi cho mấy. “Thằng Quốc với tôi có nhiều trùng hợp mà cũng có nhiều khác biệt lắm”, Thanh giới thiệu tôi với anh bạn đi cùng, có lẽ cùng làm việc chung với nhau. Tôi ngẩn người ra cố nhớ xem tại sao Thanh lại nói như vậy vì thật ra tôi không nhớ gì lắm ngoài hình ảnh Thanh đi chiếc xe đạp cà tàng với hai ống quần kẹp lên để khỏi vướng dây sên. Thanh vỗ vai tôi nói “bữa nay mình uống cho đã để nhớ lại chuyện xưa nhe”. Quay qua người bạn Thanh nhắc ngày xưa có lần ghé nhà tôi ăn cơm lúc ba mẹ tôi còn ở Ngã Bảy Lý Thái Tổ kìa. Mà thằng này lạ lắm, ở nhà nó xổ giọng Nam đặc ruột mà vô trường thành thằng Bắc Kỳ láu cá. Có thật vậy sao hả Thanh? Nhớ mài mại mày có đến nhà tao, nhưng mày có ăn cơm không thì chưa chắc. Mà từ trường về nhà tao đã xa vậy mà còn phải chạy về cư xá Tân Sơn Nhất thì bao giờ mới tới?

Nó đưa ly bia lên cụng vô ly sô đa chanh đường với tôi, nói mày uống theo mày, tao uống theo tao nhưng bữa nay gặp nhau tao mừng còn hơn trúng số. Anh có biết ngày xướng danh kết quả thi Trung Học Đệ Nhứt Cấp cả trường, mà không phải cả trung tâm Nam Gia Định chỉ có nó và tôi đậu Bình mà thôi, Thanh khoe với bạn. Tại sao Thanh nhớ dai vậy cà? Thú thật thỉnh thoảng tôi vẫn nhớ mình đậu khá cao nhưng sau này bỏ thi Trung Học thì Bình hay Thứ gì cũng đâu có ra cái củ cải gì mà nhắc. Cái số mày ơi, ra trường mấy năm không gặp vậy mà qua Thủ Đức năm 1970 tao với mày cùng chung đại đội, tao làm đại diện đại đội còn mày làm đại diện trung đội 4, có thằng trung chiến Hà cứ rình phạt mày hoài có nhớ không? Xưa nay tôi vẫn tự hào có trí nhớ tốt vậy mà cái vụ cùng đại đội này hình như đã bị xóa đi từ lâu rồi trong tiềm thức thì phải. Mà chẳng những 9 tháng quân trường đã bị xóa sổ mà 6 năm miệt mài hạm đội tôi cũng chẳng nhớ bao nhiêu. Có phải 3 năm tù đầy chết đi sống lại nhiều lần nơi rừng thiêng nước độc hay 3 tháng dân công hỏa tuyến xâm mìn Snoul, Kratié làm tôi không muốn nhớ lại những ngày xa xưa cũ. Và trong đó đã vô tình xóa đi những hình ảnh cũ?

Dù sao cũng cám ơn Trời đã để lại những khuôn mặt cũ. Tôi ghé ngang chỗ làm của Lê Đức Thông một ngày trước khi trở lại Hoa Kỳ. Nó nói tiếc quá sáng sớm thằng Thanh tính hẹn cùng đi ăn sáng nhưng người nhà mày nói mày ra khỏi nhà từ 6 giờ sáng rồi. Thằng Phạm Bá Tác bây giờ khá lắm, chuyến sau mày về nhiều thì giờ ghé qua tán láo với nó chơi. Thằng Kính tình trạng hơi bết tao đang định kêu gọi đám A1 cố giúp cho nó đỡ khổ phần nào. Lúc trước có thằng nào A1 về bảo nó bán cái xe cũ đi rồi sẽ gửi tiền về cho cái xe mới. Xe cũ bán lâu rồi mà xe mới cũng chẳng ai nhắc tới làm nó dở khóc dở cười.

Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ

Ông bà ta có câu “Tính trước bước không tới” mà cũng có câu “Không hẹn mà gặp”, cho nên đã mấy lần hẹn nhau ở Sài Gòn hay Thung Lũng Hoa Vàng mà mình cứ như đường rầy xe lửa chưa bao giờ gặp nhau cho đến lần về không tính trước. Kể ra thì không lâu bằng Bình Mù với cái hẹn 10 năm, 7 năm từ lúc biết nhau trên nét gặp nhau vẫn chưa muộn màng. Có lẽ vì sinh hoạt chung đã nhiều năm, đã được xem hình ảnh của nhau quá nhiều lần cho nên tuy gặp lần đầu mà xem chừng đã thân nhau từ lâu lắm rồi.

Hôm đó tôi không ngờ rằng Danh đã đặt câu hỏi tại sao đi học Hồ Ngọc Cẩn vì đó là chuyện bình thường như ăn cơm uống nước mà thôi. Ừ mà cũng lạ, anh Bùi Xuân Hiến đi trước mình một bước cho nên đám sau cứ như đàn bò đi theo con đầu đàn thôi mà. Ban đầu là anh Hùm và tôi, sang năm sau có thêm Tuấn Sa Đéc và mấy năm sau nữa đến phiên Phước, thằng em thứ năm.

Hình như không ai nghĩ đến chuyện nộp đơn thi đệ Thất trường khác giống như cái đám bên kia đường thà rớt nhưng cứ đâm đầu vô cái trường kỷ luật hắc ám Pétrus Ký. Phía bên kia bùng binh Ngã Bảy thì cứ đầy ra các cô áo trắng Lê Văn Duyệt giúp cho những chuyến xe buýt Phú Thọ – Bà Chiểu chen chúc nóng nực dài thăm thẳm trở thành những chuyến xe đầy thích thú, càng đông và càng lâu thì càng vui. Không hẹn mà cùng chờ nhau đi cùng đoạn đường ngắn ngủi từ bùng binh qua bên Trần Quốc Toản để cùng lên một chuyến xe. Có những buổi xe đông phải cố nhét các cô đứng trên bậc thang còn các anh hùng tí hon đu đưa ngoài cửa. Hôm nào Văn Hoa đổi phim hay thì thay vì hẹn nhau đổi xe Đa Kao hay ghé qua trường qua quýt năm ba phút rồi đeo xe Bà Chiểu – Sài Gòn.

Ngày cuối cùng tôi gặp Hiến ở Sài Gòn khi Hiến cùng gia đình chất lên xe cùng ra phi trường Tân Sơn Nhứt. Hôm đó Hiến chỉ nói ngắn gọn một vài câu nhưng hàm ý muốn kéo tôi cùng đi trước ngày đứt bóng. Năm 84 hay 85 gì đó có liên lạc qua điện thoại rồi bẵng cho đến 2002 mới liên lạc lại cũng bằng điện thoại khi đến ăn tối nhà anh Ngọc Hoài Phương, anh hai của Tuấn Sa Đéc.

Rồi thì chẳng hẹn mà gặp cũng nhờ Danh. Sau khi biết lý do tại sao mình đi học Hồ Ngọc Cẩn, vội móc ngay con dế ra quay số của Hiến để hẹn gặp chung với khóa của Danh. Tính ra đã hơn 32 năm rồi mới gặp lại anh Hiến. Anh nhắc lại những buổi sáng lạnh co ro rủ nhau chạy bộ lên sân vận động Phan Đình Phùng. Cũng có lúc chạy qua sân Cộng Hòa hay trường đua Phú Thọ, về nhà chỉ kịp thay cái áo trắng quần xanh chạy đến bến xe như vừa vớt từ dưới sông lên ướt và hôi.

Có lẽ nếu có nhiều thì giờ sẽ nhớ thêm nhiều chuyện hơn nhưng hôm đó phải về sớm trước khi tiệc tàn. Anh Hiến, Thụy và Danh tiễn ra đến tận cửa làm mình thêm áy náy, lâu ngày gặp nhau đáng lẽ phải hầu chuyện qua đêm mới phải. Thôi đành phải hẹn lần tới thôi, cứ hẹn vậy chứ biết bao lâu mà nói.

Trở lại

Về lại bên này nghe tin thằng Trưu A3 vừa mất. Năm rồi đi dự ngày họp mặt thầy cô nó còn lên hát chung với thằng Tôn đây mà. Bữa đó từ giã, nó còn hẹn năm nay ráng về gặp tao nữa nha. Mới đây nghe tin thằng Hết A2 cũng vừa qua đời. Năm rồi qua Nam Cali gọi điện định đến thăm nhưng nó cáo lỗi mới đi hóa trị về còn mệt nên hẹn lần tới. Gần đây nghe bạn bè chúc mừng nó đã hết bệnh chưa kịp gọi chúc mừng thì nó đã ra đi. Vĩnh biệt thầy Nhét, mày ra đi là rảnh nợ rồi chỉ có tụi tao còn nặng nợ phải ở lại để trả cho hết mới rũ áo ra đi được.

Cóc Tía

Lời trần tình

Chơn Thành ngày 27 tháng 8 năm 2007

Rời ghế nhà trường không một lời chia tay…

Lâu lâu có dịp về thành phố đi qua ngắm lại trường xưa với bao thay đổi mà bâng khuâng quá, lòng buồn buồn…

Trường đã thay tên, đã được sửa sang lại sau một thời gian dài dãi dầu mưa nắng như một tất yếu, những công trình phụ cũng được xây dựng thêm …

Khuôn mặt người đàn ông, mái tóc muối tiêu, áo khoác ngoài sẫm mầu, thình lình xuất hiện ngay bên cạnh bàn quản lý điểm Internet nơi tôi đang ngồi, trung tâm của một xã đang phát triển thành Khu công nghiệp liên doanh với Hàn Quốc thuộc một Thị Trấn miền Đông cách Saigon gần 100km. Câu hỏi của ông khách chưa được nói hết thì chúng tôi đã xáp vào nhau la hét vui mừng, Phong, Đặng Duy Phong đây mà, sao mày tìm đường đến tao được nhỉ, tưởng…

À, có gì đâu, anh em nhớ mày nhưng gọi mày hoài không được, số điện thoại mày tao vẫn giữ đây nhưng… tao vẫn thoảng hoặc có việc cần đi qua đây, nhưng không tìm ra mày, may mắn hôm nay, người bạn quen cũng có dịp về Bình Long nói có biết tiếng tiệm may của mày nên dắt đến ngay chóc… Thì ra số điện thoại của tôi có đổi cơ số đầu nên…

Phong, và người anh em họ Việt kiều về thăm nhà ở Lộc Ninh, Chương, Hùng, Phương bạn mới mỗi người mỗi việc cùng tuyến đường, làm cuộc picnic bỏ túi… mục đích của tao là tìm và thăm mày. Phong nói.

Quanh bàn trà ngoài sân anh em rộn rã, lâu ngày mới gặp nhau, chuyện nọ xọ chuyện kia, ai cũng tranh nói vì chỉ sợ không có đủ thời gian cho nhiều sắp xếp…

Bóng dáng thằng bạn học cũ đang ngồi trước mặt khiến tôi hồi tưởng về thời còn ngồi ở dưới mái trường xưa…

Nhớ thầy Khuê, dạy Vạn vật cho lũ học trò ban B (toán), chúng tôi thường không quan tâm nhiều đến môn học này, nhưng với phương pháp của thầy thì chúng tôi kiếm được điểm trong các cuộc thi cử… Và tôi cũng chẳng biết tại sao lại có một số thông lệ quái đản liên quan đến từng vị giáo sư như thế nhỉ.

… Bố vào, bố vào, xen lẫn tiếng đập bàn vỗ ghế kéo dài cho đến khi thầy Khuê bước vào lớp. (tiếng ồn này không làm cho ban giám hiệu lưu tâm mới là chuyện lạ!) Hình như chúng tôi có ý và thường xưng con đối với các thầy cô đáng tuổi ông, cha, mẹ mình. Dáng thầy to lớn, đặt chiếc cặp da to đùng mà hiếm khi thầy mở ra lên bàn xong, thầy quát: im lặng, chúng mày… kèm theo nụ cười. Nụ cười thầy thật tươi, tiếng thầy sang sảng và to bao trùm cả lớp học. Rồi thầy tự điểm danh (công việc này thường do các thầy giám thị phụ trách, đứng ở ngoài chiếu theo bản đồ lớp), và lớp học bắt đầu im lặng, Đinh Ngọc Ánh; Vũ Hoàng Chinh; Đặng Minh Châu… đứa nào vắng mặt là được ngay hai con zero sơn đít để không ai có thể sửa chữa được trong sổ điểm. Có đứa thắc mắc là nếu nghỉ có lý do thì sao, thầy bảo là cần chuyên cần chứ nếu cứ nghỉ nhiều có lý do thì liệu có đủ khả năng dự thi không? Và bắt đầu truy bài (thầy dùng từ truy bài thay cho từ trả bài). Một hôm tôi bị truy bài đầu tiên ngay khi thầy vừa điểm danh xong, đứng tại chỗ để trả bài, thầy hỏi hôm nay trả bài có đề bài là gì, bài có những điểm chính gì. Thường tôi chỉ ôn môn của thầy ngay trước khi thầy điểm danh, cũng như các bạn, chúng tôi coi nhẹ môn này vì là môn phụ cho ban B mà, vừa rồi ham vỗ bàn lay ghế mà quên bẵng việc ôn bài, thế là tôi không trả lời được, đành chịu hai con zero sơn đít vậy. Việc này tôi nhớ suốt đời.

Sau này, trong cuộc đời có những vấn đề cần quan tâm, tôi thường sắp xếp công việc như một sự trả bài cho thầy trước đây, có nghĩa là Công việc gì? Những điểm chính của Công việc? Từ đó giải quyết Công việc.

Miên man lại nhớ đến cô Dung dạy Triết, hình như là “bà” Dung thì mới đúng, lúc nào trong lớp cô cũng thường hay nói, này các bạn, môn học này của chúng ta quá khô khan, khó nuốt phải không? Lại gặp “bà” Dung bà ấy nói này nói kia phải không? Có những vấn đề ngoài chương trình, như phong trào Hippi chả hạn, cô có đề cập qua và cũng có bạn ra vẻ ta đây dám thảo luận với cô, cô cho phép bạn ấy phát biểu ý kiến và cô phân tích vài điểm mở rộng xong cô nói cô tôn trọng ý kiến của bạn. Riêng tôi ngoài những điểm không thể nào quên được trong những sinh hoạt trong trường, trong lớp thì những dấu ấn mà từng thầy, cô còn lưu lại trong chúng ta là tài sản cực kỳ quý báu giúp chúng ta đắc lực trong cuộc đời, chính vì thế mà chúng ta dễ có tiếng nói chung. Như còn vang vọng đâu đây lời “bà” Dung: Làm việc phải có phương pháp, không có phương pháp thì tốt nhất không làm.

Học Vật Lý thầy Thư, Hoá cô Thiệp, quan hệ gia đình giữa thầy và cô bọn học trò mình biết rõ, chả biết nguồn ở đâu. Hình như cô “hiền” hơn thầy. Cả thầy và cô thường ít nói chuyện dông dài trong lớp, cô đọng lại với bài vở. Bóng dáng thầy cô đối với tôi khá mờ nhạt nếu…

Năm tôi lên lớp đệ Tam, nhà nghèo nhưng tôi nài nỉ bố mẹ tôi, nhất là mẹ tôi lo chạy tiền mua cho tôi một chiếc xe Mobylette xám cũ cho bằng người ta, trong khi lác đác trong sân trường bên khu để xe học sinh đã thấp thoáng một số xe Honda dame, Honda SS67, Honda PC50 rồi, sau đó tôi vừa đi làm một buổi vừa đi học một buổi để có tiền mua sách vở, quần áo, xăng dầu…

Đậu Tú Tài I xong, tôi có phần phấn khích và tự hào, pha lẫn cả tự kiêu nữa chứ, vì xóm tôi các bạn học khác trường rất ít người đậu, tôi đâm ra coi thường việc chăm học như năm ngoái với kỳ thi Tú Tài I, hậu quả là tôi rớt kỳ thi Tú Tài II khoá 1971, phải vào lính ngay lập tức (khoá IV/71 TBB Thủ Đức).

Trong đám bạn bè HNC bỏ túi của chúng tôi, có thằng Đinh Quang Thuần, từ năm đệ Tam đã có ý tìm cách học nhảy các lớp tiếp liên ngày và đêm để có đủ điều kiện nộp đơn dự thi Tú Tài I sớm một năm, để đủ tuổi an toàn theo đuổi Đại Học trong thời chiến, và nó đã đạt ý nguyện. Những ngày còn lại trước khi nhập ngũ rất quý báu, chúng tôi thường tìm cách gặp nhau thường xuyên, đứa vào Đại Học, đứa mang lon trung sĩ về phép, thằng Nguyễn Văn Trọng vừa đi học vừa đi giao thuốc tây (visiteur médical) từ năm đệ Ngũ với chiếc Mobylette vàng thời thượng ngày ấy, sau đệ Nhất cấp bỏ trường vào Hải Quân. Những thằng vào được Đại Học trong thời chiến vác cái mặt vểnh lên cao, hay là mắt tôi nhìn thấy chúng như thế lúc ấy, còn quác cái mỏ lên ca bài có ca từ “trả lại em yêu, sân trường Đại Học, con đường Duy Tân cây dài bóng mát” nếu có phải vào lính. Con nhà Thuần thân tôi lắm, sau những lần gặp nhau quý báu trước khi tôi nhập ngũ, lúc ăn hủ tiếu bò vò viên ở góc ngã tư Bình Hòa, nơi một chiếc xe đặt ngoài vỉa hè gần ngã tư, tuyệt ngon và đặc biệt mà bọn tôi sưu tầm mới biết, hai cha con nguời Hoa, ông cha già đã luống tuổi, cô con gái xinh xinh kém chúng tôi vài ba tuổi, kết hợp hai yếu tố đó lại, nên hễ có tiền là chúng tôi lại tìm đến đây. Trời đêm dần sâu, chúng tôi tạm biệt nhau, (hay là vĩnh biệt nhỉ, thời chiến mà).

Nó bắt tay tôi (xí làm bộ như người lớn) và nói: thương mày quá, tuy nhiên gặp nhau tại sân trường Đại Học, mày phải có một sân trường Đại Học để về gặp bạn bè và đi để trả lại em yêu chứ. Và chúng tôi lên xe về nhà…

Trước mặt tôi, trong bóng đêm, bóng thằng bạn nhòa dần, tôi, gia đình, thân phận, cuộc chiến và cái sân trường Đại Học để về và để đi…

Một năm quân trường, ra hành quân sát vùng giới tuyến chia đôi đất nước, nhiều cái nợ trên vai, cuộc chiến, gia đình, và cái sân trường Đại Học để…

Tôi quyết định ghi danh học hàm thụ tại trung tâm hàm thụ sinh viên, trung tâm α ở đường Nguyễn Văn Giai Đakao, đóng học phí một lần và quyết tâm tìm cho mình tấm vé vào sân trường Đại Học. Với quyết tâm như thế, tôi quyết định sẽ gửi thư cho bạn bè và gia đình thông báo ngày tôi sẽ dự thi như một thử thách…

Chiến tranh vùng Quảng Trị được báo chí trong và ngoài nước lúc bấy giờ loan tin là khốc nhiệt nhất từ trước đến nay, hơn cả những trận đánh thời đệ II Thế chiến về số lượng bom đạn cả hai bên đổ vào, mặc kệ, đối với tôi cái vé vào sân trường Đại Học…

Balô đầy sách học mà tôi đã nhờ gia đình gởi ra, có sách của Giáo sư Phạm Thư, bìa màu đỏ cho Vật Lý, màu Xanh cho Hoá Học, biên soạn theo chương trình mới, khoá thi trắc nghiệm đầu tiên tại Việt Nam. Và trên từng bước chân, trong chiến hào, dưới hầm hố, hễ khi nào tạm ngưng tiếng súng là tôi lại mang ra học, nón sắt là ghế ngồi, đùi là bàn, một bên là sách lý thuyết, một bên là sách trắc nghiệm, lúc này hình bóng thầy Thư và cô Thiệp hiện về, cách viết dàn bài trên bảng, cách cho bài viết gợi nhớ cho tôi từng chi tiết công thức một, và đây cái ý nghĩa của sóng, của con lắc, của gia tốc, của trọng trường mà thầy Thư đã giảng khi còn trong lớp tôi chưa hiểu rõ thì hôm nay rõ hơn, kết hợp với những giải thích toán học của thầy Lạc, và nhất là dàn bài gợi ý học và làm bài thi trắc nghiệm của thầy đã làm cho tôi hiểu rõ hơn. Tuy cô Thiệp không có viết sách hoá học, nhưng giọng cô giảng bài từ những lớp trước cũng vang lại trong đầu tôi, hình như những gì liên quan đến thầy Thư đều liên quan đến cô Thiệp. Và môn học tôi lo nhất là hoá học lại được sách hướng dẫn của thầy Thư làm sáng tỏ, thậm chí loạt bài dòng alcan, alcen và alcin khó học khó hiểu tôi tìm cách học thuộc lòng theo cách mà thầy Ngũ phác phác trong lớp dạo nào…

Thầy Lạc đối với tôi, là một người tương đối khô khan như môn toán của thầy, dáng thầy khắc khổ và có vẻ luôn bận rộn, nét viết của thầy trên bảng khá nhẹ tay, hơi mờ nhạt, đặc biệt thầy vẽ vòng tròn rất nhanh, thầy coi chúng tôi như là những học sinh giỏi, thầy giảng nhanh và ngạc nhiên khi có trò nào nêu lên những câu hỏi của những kẻ không chịu học và làm bài tập kỹ ở nhà, học sinh trường có tiếng mà. Ừ nhỉ, mình cũng đang là học sinh giỏi của thầy đây, câu trắc nghiệm toán đặt ra là xác định một vòng tròn có tâm O và bán kính r trong hệ trục trực chuẩn với dãy câu trả lời sẵn đây mà, câu hỏi này mà hỏi thầy thì sẽ bị … vì thầy đã dạy rằng bất cứ Em (M) ở đâu (tập hợp M) mà có thông tin về Em (M x,y) với điều kiện (tham số r) thì anh cũng sẽ xác định được ngay lộ trình (vòng tròn) của Em lập tức… Và những hướng dẫn tương tự như thế theo về với từng đề mục khác với tôi, ở bất cứ nơi nào tôi đến, dưới cơn mưa đạn, pháo, mìn…

Và khoá thi năm đó tôi nhờ gia đình người bạn tôi nộp đơn thi tại Huế để không bị đánh giá là giả tạo để lấy giấy phép trong lúc đơn vị đang ở trong mặt trận khốc liệt, có thể bị cúp phép. Ngược lại trong lòng lại lo sợ nếu chuyển quân đổi vùng thì lại có thể lỡ cuộc thi ở Huế.

Và tôi đã được dự thi, ngày xem bảng người em gái bạn tôi thông báo là tôi có dư điểm đậu… Sau đó cô em gái người bạn gợi ý tôi vào Văn Khoa Huế học và hình như cô ấy cũng cùng học với tôi. Và tôi đã có dịp tới Đại Học Văn Khoa Huế, và đã đi và đã có sân trường Đại Học để trả lại em yêu ngay giữa lòng Thần Kinh rồi các bạn ạ. Tôi hét thật to chứ không phải hát ca từ này, rồi tự thưởng mình một chuyến xe ôm (Huế gọi là xe thồ) đến thăm thôn Vỹ dạ, một bữa cơm ở quán Âm Phủ bao luôn cả bác tài.

Ơ còn thiếu con đường Duy Tân cạnh sân trường cơ mà, à phải nhờ thằng Đức (Nguyễn Tiến Đức) đang còn tuổi học Đại Học Luật ở đây nộp hồ sơ dùm vậy… Còn thằng Thuần loay hoay rồi cũng bị cuốn vào cuộc chiến vì lại không đủ tuổi với lệnh đôn quân mới…

Và gần kết thúc cuộc chiến (tháng 10 năm 1974) mình bị rơi vào một bãi mìn, rất may là chỉ bị mất một bàn chân, một ống quyển thương tật, gởi lại chiến trường tây bắc Huế…

Và sau 1975, tôi đã chống nạng đến trường Luật, được C trưởng (một chức vụ như là một đội trưởng SV thời mới) thông báo là tôi tạm thời chưa có quyền đi học tiếp vì chưa có quyền công dân… Sau đó gia đình tôi đi lập nghiệp vùng Kinh Tế Mới cho đến ngày hôm nay…

Đất nước dần dần thay đổi, sau đổi mới, kinh tế phát triển, anh em lại có cơ hội gặp nhau, nhóm bỏ túi chúng tôi trong cộng đồng HNC đã họp bạn bỏ túi với nhau vài ba lần, từ nhóm nhỏ xíu một đến có lần tập trung lớp, hơn chục thằng, đứa còn đứa mất…

… Mày mở Internet công cộng mà không biết gì sao? Vào ngay trang HNC (www.hongoccan.com) sẽ rõ, tao cũng có duyên đăng một bài trên Bản Tin số 5. Phong nói trong khi anh em uống với nhau vài ly trước khi từ giã…

Và tôi cũng đã có trong tay 14 Bản Tin HNC, sẽ phổ biến đến anh em khi có dịp.

Tôi thật không ngờ mình vô tình quá để không biết đến trang nhà HNC của mình đã có từ lâu, trong thế giới thông tin mà lại mù thông tin. Phong đã bao lần cố công tìm tôi cả trăm cây số mãi đến hôm nay mới gặp, và do đó tôi mới có thông tin này. Chắc là còn rất nhiều đồng môn của chúng ta vẫn chưa biết tin này, nhất là những người ít tiếp cận với Internet. Trong khả năng của mình bằng mọi cách tôi sẽ cố gắng mang tin này đến mọi anh em.

Qua những Bản Tin HNC, tôi rất vui mừng, lại có dịp sống lại những ngày xưa cùng mài ghế dưới mái trường thân yêu, được gặp lại quý thầy cô kính mến qua hình ảnh, và biết được các đồng môn của mình trên toàn thê giới.

Viết những dòng này theo tình cảm tuôn trào, chắc chắn có nhiều hỗn độn, vẩn vơ mong quý đồng môn đừng chấp nhất, chỉ mong muốn nói lên một mảng trong bức tranh HNC của chúng ta, với muôn vàn tri ân quý thầy cô đã dày công dạy dỗ cho chúng ta được nên người, nói theo ý của đồng môn Tín, quán Café HNC Saigon, mà tôi có dịp nói chuyện qua điện thoại, chúng ta đã sống tốt, hữu ích cho xã hội trong mọi tình huống.

Với tôi, chúng ta tự hào vì là học sinh Hồ Ngọc Cẩn, nơi mà Tâm Huyết, Tinh Tuý Trác Tuyệt của quý thầy cô đã truyền cho chúng ta làm hành trang vào đời, đã giúp chúng ta trở thành những nguời sống có ích cho xã hội như chúng ta đã là. Công lao ấy không có gì so sánh được.

Nhân đây tôi cũng xin quý anh em đồng môn đang phụ trách công việc chung nơi đây chuyển giúp tôi đến toàn thể quý thầy cô lòng biết ơn vô hạn và kính chúc quý thầy cô cùng gia quyến luôn luôn dồi dào sức khoẻ, an khang và tiến bộ mọi mặt.

Nguyễn Hữu Kiểm HNC(1966-1971)

Những mảnh vụn ký ức

Gởi mấy anh phụ trách Bản Tin HNC,

Tôi biết trang web HNC không lâu lắm, sau khi đọc xong mấy Bản Tin cũ, xúc động viết ngay 1 bài mà tôi gởi kèm theo đây. Viết xong rồi định gởi đi, rồi chần chờ mãi, sau cùng cho mãi tới ngày hôm nay.

Thỉnh thoảng tôi cũng có vào trang web HNC, để đọc những Bản Tin, mới đây bỗng giật mình khi thấy trang web hoàn toàn thay đổi về hình thức, đẹp hơn xưa quá nhiều. Ngày hôm nay, mới vào đọc, lại tìm thêm được một người học lớp tôi ngày xưa, Nguyễn Hữu Kiểm, dù không chơi thân với nhau, nhưng thật cảm động khi còn thấy lại được những tên họ quen thuộc ngày xưa. Cảm động quá, tôi quyết định gởi lá thư này cho mấy anh cũng như bài tôi viết lâu nay nhưng còn ngâm tôm đó.

Mấy anh thấy đăng được chỗ nào thì đăng. Tất cả những dòng tôi viết chỉ là những kỷ niệm riêng tư, ghi lại của một ký ức đã bị mờ nhạt theo thời gian, còn chăng là lòng kính trọng đối với thầy cô, những hình ảnh cũ của bạn bè dù ngày nay đứa còn đứa mất, đứa lưu lạc phương nào.

Thân kính,

Lê Văn Tấn, HNC 64-71

Con chim lạc đàn

Tôi biết trang nhà HNC nhờ một người bạn, bạn tôi Nguyễn Văn Mão, học Chu văn An. Hai đứa tôi không đồng trường, nhưng chung cảnh ngộ. Tôi và Mão bị động viên mùa hè năm 72, mùa hè đỏ lửa của nhà văn Phan Nhật Nam. Tôi vào Thủ Đức khoá 4/72, ra trường về binh chủng Không quân, làm dưới đất. Mão đi thẳng Không quân, học bay bên Mỹ, về bay bổng trên không. Hai đứa gặp lại nhau trên đường vượt biên vào những ngày đầu tháng 5 năm 75. Tôi là sĩ quan kỹ thuật không phi hành, nên không có máy bay đã đành, Mão là phi công mà cũng phải ngồi chung với tôi trên chiếc tàu đánh cá nhỏ xíu, chồng chềnh trên biển Đông, không biết chìm xuống biển lúc nào.

Tôi và Mão là một trong những người tị nạn người Việt đầu tiên đến Áo, một xứ nhỏ nằm giữa Âu châu. Xứ của núi đồi trùng điệp. Xứ của tuyết phủ chập chùng. Xứ của những chàng nàng trượt tuyết vô địch thế giới. Xứ của anh chàng lang bạc giang hồ Arnold Schwarzenegger, rồi trở thành thống đốc tiểu bang California. Xứ của những giòng nhạc Mozart, bên dòng sông xanh Donau (Danube) lững lờ. Mão đã bỏ xứ Áo khô cằn, đất chỉ cày lên sỏi đá này, để đi Mỹ, hiện nay đang sống ở San José. Mão học CVA, nhưng lại lấy cô bé láng giềng nho nhỏ LVD của bọn mình (nho nhỏ của 30 năm về trước ấy mà!). Đúng là Bụt nhà không thiêng.

Nhờ Mão bây giờ tôi biết lại mái trường xưa, thầy cô kính yêu cũ. Tôi như con chim lạc đàn tìm được đường về tổ cũ.

Thầy cô kính yêu

Tôi vào trường HNC năm 64 và rời trường năm 71.

Khi tôi vào HNC, thầy Nguyễn Đức Hiếu lên thay thầy An Cư làm hiệu trưởng. Nỗi xúc động đầu tiên, khi tôi biết thầy Hiếu vẫn còn mạnh khoẻ. Ba mươi mấy năm về trước, thầy đã già rồi. Tôi nhớ không học thầy, cũng không rõ thầy có dạy môn gì không, chỉ còn nhớ thầy qua những lần chào cờ, mà thầy thường hay lên nhắn nhủ điều này điều kia với chúng tôi. Thầy cũng thường hay cầm một cây roi mây dài. Có lần thầy kể, thầy bắt một niên trưởng của tôi nằm giữa trường, để đánh anh mấy phát vào mông về tội gì đó. Anh năn nỉ thầy, phạt ở đâu cũng được, đừng đánh ở giữa trường anh mất mặt với bạn bè, đàn em. Thầy không chịu. Thầy cảm động cho biết, sau này anh là người học trò cũ về thăm thầy thường xuyên nhất.

Thầy Trần Minh Tâm, khi tôi học thầy năm đệ Nhất, môn Địa Lý, thầy chưa lên thay thầy Hiếu làm Hiệu trưởng. Tôi và thằng bạn thân, Đinh Ngọc Ánh, có đến nhà thầy một lần, đến chúc Tết thầy. Nhà thầy ở đường Hoàng Hoa Thám. Gần những ngày cuối tháng tư năm 75 chao động, tôi có thấy thầy một lần trên đường Ngô Tùng Châu. Con đường in quãng đời niên thiếu của tôi.

Tôi học thầy Trì Thịnh Huệ môn Hội Họa 3 năm: Thất, Lục, Ngũ. Tôi có khiếu vẽ, nên thích môn này nhất. Tôi còn nhớ, tại một trại hè ở Vũng Tàu, mấy thầy trò ngồi chuyện vãn, thầy cho chúng tôi biết, thầy đoạt được giải Văn học Nghệ thuật về bộ môn nhiếp ảnh. Chắc cũng chẳng có gì khó hiểu, con mắt người hoạ sĩ dĩ nhiên nhìn hình ảnh dưới bố cục đầy mỹ thuật.

Trong 3 năm học với thầy, thầy có tổ chức 1 lần triển lãm tranh của chúng tôi tại trường. Ông Tỉnh trưởng Gia Định, bà chủ quán sinh tố đối diện trường mỗi người mua 1 tấm.

Một lần thầy góp tranh chúng tôi đưa đi dự thi một giải hội hoạ dành cho học sinh trên toàn quốc. Thầy nhìn 1 bức tranh của Nguyễn Ngọc Thạch học lớp tôi, thầy nói, bức này sẽ trúng giải. Năm đó tôi học đệ Lục. Quả đúng như thầy tiên đoán trước, Thạch trúng giải an ủi.

Cách đây vài năm tôi có mua một ấn phẩm, bìa cứng, giấy láng, in tuyệt đẹp: Văn Đen và các tác phẩm hội họa của họa sĩ Hoàng Kế Phúc, ấn hành để tưởng nhớ người thầy cũ của mình. Qua đó tôi mới biết, họa sĩ Văn Đen cũng là 1 người thầy trường HNC, dạy (trật chìa) môn Thể Dục.

Thầy Giám học Tạ Văn Bằng, tôi học thầy năm đệ Tam và đệ Nhất. Về con người thầy, người thầy khả kính, các thầy cô, các bạn đồng môn đã viết rải rác đâu đó trên trang nhà HNC, tôi có viết lại cũng không bằng ai. Với thầy, tôi chỉ có một kỷ niệm duy nhất.

Năm mới thi đậu vào trường, lúc ghi tên thi, tôi ghi học Anh văn. Khi được chia vào lớp thì lại vào lớp Pháp văn. Tôi và khoảng 5, 6 học sinh nữa kéo xuống gặp thầy. Thầy phán: “Mấy anh không biết tại vì sao phải qua lớp Pháp văn? Đậu thấp quá, lớp Anh văn không còn chỗ. Không muốn học thì ra trường tư mà học.” Nghe hai chữ trường tư, mấy đứa tôi sợ hết hồn. Thế là 7 năm HNC, tôi học thầy 2 lần môn Anh văn, nhưng là sinh ngữ phụ.

Ít dòng về thầy, như một nén nhang con cấm lên mộ thầy, biết công ơn thầy.

Đọc trên trang nhà HNC thấy cô Trần Thị Ngoạn viết cho em học trò nhỏ nào đó. Tôi cũng là em học trò nhỏ của cô, năm tôi học đệ Tam. Cô là giáo sư hướng dẫn lớp tôi. Chắc năm đó là năm tiểu hạn trong đời của cô, nếu nói theo tử vi. Lớp tôi là lớp nổi tiếng nghịch ngợm. Tôi nhớ một lần, cô vào lớp nhìn lên bảng, thấy trên bảng vẽ và ghi chú phá cô. Cô bỏ ra ngay. Mấy phút sau, thầy Tổng giám thị Lê Mộng Ngọ lên ngay. Thầy còn lạ gì lớp của tôi. Sau một màn hạch hỏi không có hiệu quả, thầy kêu ngay tên ngồi đầu bàn, dãy bàn ngoài cửa theo thầy xuống văn phòng Tổng giám thị. Sau màn thẩm vấn, nó lên kêu thằng ngồi kế. Lần lượt từng đứa một, cho đến đứa cuối cùng. Tôi nhớ, đại khái thầy nói với tôi: “Tôi biết anh không làm, nhưng anh cho tôi biết anh nào phá, để tôi phạt. Anh đừng sợ, tôi gọi hết từng người xuống, không anh nào biết anh cho tôi biết đâu”. Tôi không biết thật, mà nếu có biết, tôi cũng không nỡ khai. Lỡ tên đó bị đuổi học thì sao? Trong một lúc bốc đồng giỡn chơi không suy nghĩ, làm khổ lụy mẹ cha. Là con nhà nghèo, có 3 anh em, chỉ có 2 đứa học được trường công, tôi biết nỗi khổ của cha mẹ tôi.

Với cô Ngoạn tôi còn một kỷ niệm nữa, một lần làm bài kiểm bị điểm thấp. Cô tội nghiệp, kêu lên khảo bài để cho gỡ điểm. Đang buồn lòng, đầu óc lung tung, tôi trả lời chẳng đâu ra đâu. Cô bảo tôi: “Cô tưởng cho em gỡ, gỡ ra không gỡ lại gỡ vào.”

Qua lá thư của cô Ngoạn, thì ra cô Phi Phượng xin đổi qua trường khác vì sợ đám nam sinh. Tôi học cô năm đệ Thất hay đệ Lục, bây giờ tôi cũng không nhớ rõ. Tôi mến cô và thầy Huệ, nên khi viết bài cho mấy tờ báo học trò thuở đó, tôi lấy bút hiệu là Phượng Huệ và lập một thi văn đoàn cũng mang tên cô: thi văn đoàn Phượng Vào Hè, tất cả bọn chúng tôi mười mấy đứa đều được tôi yêu cầu lấy bút hiệu bắt đầu bằng chữ Phượng, như Phượng Vồ (Nguyễn Văn Minh)… Bây giờ nghĩ lại, tôi đúng là anh học trò lớp đệ… Thất.

Tôi học cô Hồng năm đệ Tam. Tôi không còn nhớ có phải cô tên Hồng hay không, chỉ nhớ một cô giáo Việt văn rất đẹp. Năm đó một trường bạn qua bán tờ giai phẩm xuân, cô mua, rồi kêu tôi lên cho. Một bài luận của tôi làm ở nhà, cô phê: “nếu bài này không chép trong sách ra, là một bài hay”. Tôi giữ bài luận có lời phê này, tờ giai phẩm xuân cô mua cho. Một trong những kỷ niệm đẹp đời học sinh HNC của tôi.

Cô Đái Thị Minh, cô dạy chúng tôi năm đệ Tam. Năm đó có lần cô bận học thi trên đại học, cô giao cho một anh sinh viên coi lớp tôi, cho bài kiểm chúng tôi làm, cho phép anh này chấm bài, nhưng dặn chừa ra mấy bài ít đứa học trò cưng cuả cô, để dành cho cô chấm. Những đứa bị lọt sổ trong danh sách này la ầm lên. Ngày xưa có lần cô khen nụ cười người thiếu nữ trong bức tranh Mona Lisa. Thuở đó lâu lâu tôi lại lấy cuốn tự điển tiếng Pháp ra xem tấm hình này. Bây giờ, mỗi lần nhìn thấy ấn bản bức tranh này ở đâu đó, tôi đều nhớ đến cô. Cô giáo Vạn Vật hiền từ.

Cô Lê Thị Thiệp, tôi học cô năm đệ Tứ hay đệ Ngũ gì đó. Thầy Phạm Thư, chồng cô, tôi chỉ học thầy một lần, thầy dạy thế cô bị bệnh. Không còn nhớ năm nào, thằng bạn Lê Trí Dũng, kêu tôi và Phạm Văn Điển lại nhà thầy, vẽ cho thầy mấy bảng quảng cáo dạy thêm Toán Lý Hóa. Ba đứa làm một ngày trời, đang thỏa mãn với thành quả của mình thì bất ngờ, một anh họa… sỡi ghé ngang, quen đâu với Dũng. Dũng nhờ anh “đi” dùm mấy đường, để chiều thầy về, khoe với thầy. Anh chàng họa sỡi chắc quen vẽ tranh Picasso, đi lả lướt mấy đường bay bướm, ba đứa tôi thiếu điều té xỉu. Dũng méo mặt, nó chịu trách nhiệm vụ này. Hôm sau tôi không dám tới nữa, sợ thầy la.

Thầy Tổng giám thị Lê Mộng Ngọ, tôi quen với con thầy. Lê Nam Mỹ học cùng năm nhưng khác lớp. Ngoài hai lần xuống “thẩm cung”, một lần lớp đệ Tứ, một lần lớp đệ Tam. Thầy tha tôi một lần phạm lỗi năm học đệ Nhị. Lần đó, lớp tôi phụ trách điều khiển chào cờ. Thông lệ một đứa, thường là trưởng ban văn nghệ, lên đếm nhịp cho cả lớp hát quốc ca. Hôm đó không đứa nào chịu lên, Khưu Văn Đặng học lớp tôi, nhảy lên làm. Nhìn tướng Đặng làm nhạc trưởng, không đứa nào nín cười cho được. Vài ba đứa trong lớp tôi cười, rồi cả lớp, lần lần cả trường. Buổi chào cờ trang nghiêm, trở thành buổi trình diễn kịch vui ngoài trời. Thầy Ngọ đi ra phía sau lưng chúng tôi, vai đứa nào run lên, tức là đứa đó đang cười, đều được thầy kêu lên văn phòng phạt. Thầy tha tôi, mặc dù tôi cũng tham dự trận cười. Sau khi rời trường, năm 72 tôi còn gặp được thầy một lần nữa cho tới bây giờ. Tôi gặp thầy ngang Lăng Ông Bà chiểu, tôi chào thầy, than với thầy, tôi sắp vào lính. Thầy nói, con thầy, Mỹ cũng đi.

Đọc được tin thầy Bùi Khắc Lạc mất nhiều trí nhớ, lòng tôi nặng trĩu buồn. Tôi học thầy năm đệ Nhất. Năm này, chương trình toán thay đổi, không còn nặng về hình học nữa mà về giải tích. Thức trắng đêm, càng học càng rối beng, lù mù. Thầy năm đó còn trẻ, đi dạy học không mang theo gì hết. Công thức, định đề toán thầy đọc cho chúng tôi chép ào ào không cần sách. Khi làm bài tập, thầy hỏi chúng tôi có bài nào bí, đem ra thầy giải cho. Thầy giỏi toán kinh hồn.

Mùa Xuân năm đó trường Gia Long lần đầu tiên lặn lội xa xôi đến bán giai phẩm Xuân. Có lẽ năm đó báo bán… ế quá. Ba em GL xinh như tiên vào lớp tôi, vào giờ của thầy. Một tên: “Thầy ơi, mua dùm người đẹp làm… phước, em không tiền mà còn phải mượn tiền mua đây thầy.” Thầy Lạc tỉnh bơ nói, con thầy học GL chắc đã mua rồi. Tiếng một tên nào đó vang vang: “Thầy mới lấy vợ, con đâu mà lớn quá vậy thầy.” Thầy bỏ ra hành lang.

Mùa hè năm đó, tôi với Ánh chờ thầy trước cổng trường Pétrus Ký. Thầy coi điểm thi cho 2 đứa tôi. Bằng Tú tài 2 của hầu hết chúng tôi năm đó, có tên và chữ ký của thầy. Kỷ niệm duy nhất còn lại của tôi đối với thầy.

Cô Trần Lệ Dung, tôi học cô năm đệ Nhất. Nhìn gương mặt nghiêm nghị, khắc khổ của cô, tưởng chắc cô khó lắm, nhưng thật ra cô hết sức hiền. Một lần có đứa thức khuya học bài, mệt quá xuống cuối lớp nằm nghỉ chờ đổi giờ, rồi ngủ quên. Tên này ngủ ngáy lớn quá, có đứa định đứng lên xuống kêu nó dậy. Cô bảo đừng, để cho anh chàng ngủ tiếp, cô thông cảm: năm thi của chúng tôi.

Có một điều cho tới giờ này vẫn còn là một niềm thắc mắc của tôi. Cô nói với chúng tôi, nếu cho cô trở lại đời học sinh, cô sẽ đi du học Đức quốc. Cô khen nước Đức là quốc gia tiến bộ vượt bực về kỹ thuật. Nếu cô dạy Toán hay Lý Hoá thì chẳng làm tôi ngạc nhiên, một cô giáo dạy Triết, hay đó chỉ là lời khuyên gián tiếp cho chúng tôi?

Đinh Ngọc Ánh đưa cho tôi coi thành tích biểu (học bạ) của nó, cô Dung phê: “nếu tôi còn lời khen nào hay hơn, tôi cũng không ngần ngại mà phê vào đây”. Có lời khen nào đẹp hơn thế nữa không!

Đọc qua mấy Bản Tin, các niên trưởng, các đàn em viết về các thầy cô, mới biết là trí nhớ của tôi bây giờ thật tồi tệ. Thôi thì, ngược lại với Đặng Duy Phong: “Hồi đó tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết”.

Những gương mặt cũ, bạn bè xưa

Qua Bản Tin số 11, tìm lại được 2 người học cùng lớp là Phạm Sơn và Đặng Duy Phong.

Phạm Sơn, nếu đúng Sơn học lớp tôi, thì Sơn học đại học Khoa Học ban Toán, sau đi du học.

Đặng Duy Phong, Phong học Luật. Phong chơi thân với Nguyễn Văn Minh. Minh học 1 năm KS Nông nghiệp, sau đậu vào trường Điện, bỏ trường Nông Lâm Súc sang Phú Thọ. Nhà ba mẹ Phong tôi còn nhớ ở trong con hẻm gần trường Chi Lăng. Như đã viết, trí nhớ tôi ngày nay đã bị bụi thời gian phủ kín, nên chỉ nhớ lờ mờ, hình như con hẻm này tên Vạn Kiếp. Từ nhà Phong, đi thêm một đỗi nữa quẹo về bên trái là nhà của Ánh. Vào sâu tận bên trong là nhà Nguyễn Văn Minh. Lần cuối cùng tôi gặp Phong và Minh là năm 75, đi làm về tình cờ gặp 2 đứa đèo nhau trên chiếc Honda. Ba đứa dừng lại nói chuyện. Phong nói với tôi: “lính gì trông ba-bi-lắc quá vậy.”

Phạm Văn Điển, học khác lớp nhưng chơi rất thân. Năm 2004, Điển ghé qua nhà thăm mẹ tôi, có cho gia đình tôi số điện thoại, biết được số điện thoại Điển, mừng quá, tôi gọi ngay cho Điển, quên để ý giờ giấc. Tôi gọi cho Điển gần vào nửa đêm bên đó. Điện thoại reo … vui (cho tôi)… gần 10 lần, chắc vợ chồng Điển đang an giấc điệp, nghe tiếng vợ Điển, tôi vội nói: “Điển có nhà không chị… xin cho tôi được nói chuyện với Điển, tôi là bạn Điển.”

– … Điển (giọng cộc lốc, có lẽ Điển đang quạu vì bị đánh thức dậy)

– biết ai đây không bồ, nghe giọng nhận được người không?

– … không, nói đi.

– Tấn, học với bồ trường HNC.

– LVT hả?

– Ừ… nghe nhỏ em nói bồ đưa con lên Sàigòn thi vào đại học, sao tôi nghe có tiếng con nít khóc?

– mới có đứa con, …

– … tai nạn nghề nghiệp hả bạn? (qua điện thoại không biết Điển đang cười hay đang mếu)

– Ông còn nhớ Ánh, Đinh Ngọc Ánh không?

– Nhớ… (Tôi không nhớ Ánh, thì còn nhớ đến ai)

– Ánh bây giờ làm cho một cơ quan của nhà nước…

Tôi nghe trái tim mình đập trật đi một nhịp, cứ tưởng Ánh đã đi được. Khi tôi ra đi rồi, Ánh có lên nhà thăm gia đình tôi một lần, rồi không còn biết gì về Ánh nữa. Năm 94, đọc trên tạp chí Làng Văn, thấy mẫu cáo phó, chia buồn ông Đinh Văn Rạng qua đời, phía dưới thấy tên ba mẹ Ánh ở Canada, tôi mừng vô hạn, vì nghĩ là Ánh đã đi được rồi.

Có một lần tôi đi Hamburg, một tỉnh miền Bắc nước Đức, quen một anh, cựu Hải quân trung úy tên Lưu Tiến. Anh cho biết, anh đang học khoá 17 Kỹ Sư Công Nghệ, dành cho quân nhân, thì mất nước. Tôi hỏi, thế anh có biết Ánh không, Ánh học khóa 16. Anh nói, ai học Công Nghệ mà không biết Ánh, Ánh học giỏi lắm. Rồi anh kể cho tôi nghe chuyện học hành của Ánh. Quả đất nhiều khi nhỏ thật.

Những ngày cuối tháng Tư năm 75, Ánh lên nhà chơi, nhưng không vào nhà. Tôi đứng bên trong hàng rào, Ánh đứng bên ngoài. Ánh cho tôi biết một tương lai đầy hứa hẹn của mình, nhưng trong gương mặt Ánh không dấu nỗi nét đăm chiêu như tôi. Sau khi xong kỹ sư Công Nghệ, Ánh sẽ đi du học, học lên tiến sĩ. Trong ký ức nhạt nhoà theo năm tháng, tôi vẫn còn hình ảnh đậm nét người bạn thuở áo trắng quần xanh.

Ngày xưa Từ Thị

Trong danh sách những người: “em tan trường về anh theo… Từ về”, bây giờ tôi mới biết là dài lê thê, nhưng chắc còn thiếu, ít nhất cũng thiếu … tôi trong đó. Đọc đoản văn “nàng” viết, và bài thơ của “lại một người cũng giống như tôi”, ngọn lửa trong đống tro đã tàn, hiu quạnh với thời gian, bỗng nhiên ầm ỹ cháy lại bập bùng. Ngọn lửa có reo vui hay không thì tôi không biết, chỉ thấy lòng mình một nỗi buâng khuâng. Buâng khuâng gợi lại kỷ niệm không phải khó quên, mà bây giờ tôi mới biết là không quên được.

Ngày xưa, tan học, nàng về ngang cổng trường tôi, đôi khi nàng đi với người bạn. Bạn nàng, tên Phượng, là em của người bạn của Trần Công Thành. Tài, anh Phượng, học Võ Trường Toản, ở gần nhà Thành. Tôi ngồi chung bàn với Thành 2 năm cuối HNC. Nhà Thành ở Gò Vấp, nhà tôi gần ngã ba Cây Thị, nên hai đứa ngày nào cũng về với nhau. Những lần gặp nàng và Phượng về ngang qua trường, có khi Thành chạy chậm theo nói ít câu với Phượng, có khi chỉ chào rồi đi. Những lần như vậy tôi chạy xe theo sau chờ Thành, được dịp ngắm… tóc nàng. Một thời gian sau, tôi nói với Thành, tôi… cảm nàng hồi nào tôi cũng không biết. Thành lâu lâu hé cho một tin, lâu lâu bật mí cho một chuyện. Thành cho tôi cả thời khóa biểu, giờ đi về của nàng.

Đoạn đường từ trường HNC về nhà nàng ngắn lắm, chỉ cách có mấy khu phố. Ngày nào chạy xe ngang qua đó mà tôi không để mắt ngó vào. Sau hàng cửa sắt lạnh lùng, hình như tôi chỉ thấy bóng dáng nàng thấp thoáng có đôi lần.

Rồi tôi rời trường lên đại học, hết còn nhìn được hình ảnh em ôm cặp về qua trường, tà áo trắng em bay bay trong gió. Những lần đi đâu về, thay vì về đường ngang rạp hát Đại Đồng tôi chạy vòng qua đường Lê Quang Định để được ngang nhà nàng.

Tôi còn nhớ, một ngày… xấu trời nào đó, tôi đang ngồi chờ giờ vào nghe giảng trước giảng đường SPCN trường đại học Khoa học, thì Thành lại báo cho tôi hay một tin, hắn kề tai tôi nói nhỏ: “quên em đi mày.” Hắn cho tôi biết có một tên đang theo đuổi nàng và chắc chắn hắn sẽ thành công. Hắn học chung với chị nàng tại trường Cao đẳng Phú Thọ, ngành Hoá.

Từ đó tôi cố xoá hình ảnh nàng trong trái tim tôi. Thôi thế cũng may, vì lúc đó tôi mới biết: “Nàng là nguyên nhân đưa đến việc học tuột dốc của tôi“. Kể từ lúc bóng hình nàng chế ngự, việc học của tôi như chiếc xe xuống dốc bị hư thắng. Đúng như anh chàng HNC viết bài thơ tặng nàng, “công thức toán ban B: Từ Thị”. Đi thi mà chỉ nhớ công thức này không rớt là may, làm sao mà đậu cao cho nổi.

Hình ảnh nàng thật sự ngủ yên một góc nào đó trong lòng tôi, kể từ khi tôi và Thành vào lính. Ra Thủ Đức, Thành về tiểu khu Kiến Hoà, được ít lâu thì tử trận. Nguồn cung cấp tin tức về nàng đã ra đi theo bạn tôi. Hai chữ Hoà Thuận tôi quên luôn từ đó, cho đến một hôm khoảng năm 80, tôi còn nhớ đó là một buổi chiều cuối thu trời sắp vào đông, không khí lạnh lẽo khôn cùng, tôi đi thực tập về, cầm tờ tạp chí Việt ngữ đặt mua dài hạn, đọc trên mục nhắn tin, có người tìm nàng. Hình ảnh xưa đã mờ nhạt, lại kéo nhau trở về. Tôi bỏ học bài một đêm, ngồi viết truyện gởi đăng báo, nhân vật nữ đề tên nàng. Viết tên nàng lần cuối, kỷ niệm thời học trò ngày xưa. Dĩ nhiên không phải chuyện về nàng, vì về nàng, tôi có biết gì đâu mà viết, ngoài những tin thằng bạn cho biết, đúng sai chỉ có nó và … trời biết.

Tôi không thể nào tưởng tượng còn có một ngày tôi đọc được tên nàng lần nữa, lại càng không thể tưởng tượng nổi do chính nàng viết ra.

Cái thời làm bộ lấy xe ra lâu lâu một chút, để chờ nàng về qua trường. Cái thời chỉ dám liếc trộm tà áo em bay, chứ không dám nhìn thẳng mặt em. Cái thời ngồi học mà lâu lâu giựt mình không biết đang học gì. Cái thời đó đã qua xa tít mù khơi. Thời gian đi còn nhanh hơn bóng câu qua cửa. Ba mươi mấy năm trôi qua. Tang điền thương hải, vật đổi sao dời!

Có cậu học trò nào trong chúng ta, thời áo trắng quần kaki xanh (không phải kaki thì chết với… thầy Tổng) mà trong lòng không mang theo hình ảnh một tà áo trắng nào đó. Có đứa còn dám mang theo cùng một lúc hai ba tà áo không chừng!

mà mộng cũ cứ vờn qua khung cửa

một nỗi đời sự việc đã hôm mai.

(Một Lần, thơ Huỳnh Liễu Ngạn)

Lê Văn Tấn, HNC 64-71

Thơ thẩn nơi sân trường

Chúc mừng thầy cửu tuần khánh thọ

Thời ly loạn dở dang đường nhiên bút

Quá đôi mươi tìm lại mái sân trường

Đà Lạt lắm sương mù dăng ngập lối

Giờ trôi nhanh, háo hức mối văn chương.

Tình sư đệ mở con tim từ đó

Niềm tin yêu, lồng ngực thở căng phồng

Bút mực rộ, gấm hoa vui biết mấy

Hẹn ngày mai tươi đẹp vẫn trong tâm.

Đường đi tới, giã sương mờ thơ mộng

Đất Sài thành chen chúc nắng đua tranh

Hồ Ngọc Cẩn thân yêu, lành bến đậu

Nối gót thầy, dẫn dắt mái đầu xanh.

Theo tiếng gọi, nhịp quân hành cất bước

Đời chiến binh đâu hẹn chốn dừng chân

Mà được gặp, thầy trò mừng khôn xiết

Chuyện bảng đen, phấn trắng, ước mơ gần.

Rũ lớp bụi phong sương về trường cũ

Thầy trò xưa, duyên đưa đẩy, trùng phùng

Thầy dẫn đạo, trò đứng trên bục giảng

Đời vẹn niềm vui, tương đắc, tâm đồng.

Rồi mệnh nước lênh đênh, đời tăm tối

Giống Rồng Tiên, quằn quại chốn lầm than

Phó sanh tử, mặc bèo trôi, sóng vỗ

Nẻo về đông, chua xót cả muôn ngàn.

Ơn trời đất, còn thương, cho gặp lại

Gác đằng vương từng mấy độ xum vầy

Hồ Ngọc Cẩn, thầy trò tình tha thiết

Vui đẹp nào hơn, vui đẹp nơi đây.

Tuổi chín mươi mà hồn nhiên tươi trẻ

Vẫn học hoài và dạy mãi không thôi

Nếp sống mẫu, làm gương bao thế hệ

Trí cùng nhân, hai chữ vẹn trau dồi.

Ngày khánh thọ, Cali mùa lửa lựu

Các môn sinh, lòng mở hội tưng bừng

Châu Văn Tiếp kề vai Hồ Ngọc Cẩn

Chu Văn An cùng nâng chén chúc mừng.

Trương Toại

 

Hạ sơn

Lòng đã quyết, lạy thầy con xuống núi

Đành kiếp này con bỏ lỡ đường tu

Uổng công thầy nuôi dạy bấy nhiêu Thu

Đứa xích tử không cha và không mẹ.

Con nhớ lại những hồi còn nhỏ bé

Sống bên thầy không thắc mắc vẩn vơ

Tâm hồn nhiên trong trắng tuổi ngây thơ

Lòng rộng mở để thầy gieo mầm đạo.

Do túc trái, tiền duyên hay nghiệp báo

Mới xui nên điều gặp gỡ hôm xưa

Quên làm sao buổi hái thuốc về trưa

Bên sườn núi, thầy với con đã thấy.

Con đã thấy con người hay con vật ấy

Không biết là địa quỷ hay thiên ma

Có đôi môi tươi thắm tựa bông hoa

Và cặp mắt trông bên dòng suối.

Màu da trắng, thầy ơi, con có tội

Mới thoạt nhìn, thấy mát cả tâm can

Làn tóc đen như thác đổ trên ngàn

Buông tủa xuống đôi vai tròn như nặn.

Con quái vật có nụ cười tươi tắn

Đứng nơi kia làm sáng cả khu rừng

Tia nắng vàng tỏa chiếu xuống tưng bừng

Trong khoảnh khắc bỗng tính người trổi dậy.

Bao cố gắng, bao chôn vùi che đậy

Bao tập rèn, gây dựng, có ngờ đâu

Chỉ một nhìn khi ánh mắt gặp nhau

Là sụp đổ cái công tu và kết quả.

Đôi mắt ấy làm con quên tất cả

Quên lời thầy, quên hình dáng kính yêu

Của tôn sư, kinh sách học bao nhiêu

Quên tất cả, duy chỉ còn một thứ.

Cái khuôn mặt dễ thương, cái thân hình quyến rũ

Thầy gọi là quái vật, cấm ngăn con

Không cho nhìn, bắt quay lại sơn môn

Chân con bước, nặng như chìm xuống đất.

Rồi từ đó, bóng hình con quái vật

In vào con như mực đắm chữ trong kinh

Nhắc cho con nhớ tới tuổi của mình

Trên vách đá thầy ghi mười tám nét.

Sự từ đó, tại sao không dám biết

Thấy lòng buồn man mác, thấy cô đơn

Thân như vùi ở giữa chốn thâm sơn

Ngồi bên lửa, bên thầy mà vẫn lạnh.

Rồi từ đó, mắt con thường lẩn tránh

Đôi mắt thầy thương hại đoái nhìn con

Rồi một hôm, trộm phép xuống sườn non

Con mê mải đi tìm con quái vật.

Con cũng biết những gì con đã mất

Và những gì con sẽ được ở ngày mai

Dù ngọt bùi hay cay đắng, chông gai

Con cũng chịu, đã gieo nhân thì lãnh quả.

Nơi Tịnh Độ, cõi Niết Bàn xa quá

Gần con hơn, nguồn cội đáng yêu kia

Dù là người, quỷ quái hay chi chi

Con vẫn muốn buộc đời con vào đời nó.

Dây oan nghiệt ắt là đã có

Trói con vào thêm một kiếp đi hoang

Thôi từ nay giã biệt đôi đàng

Kính năm lạy, xin thầy cho xuống núi.

Này con ạ, bỏ đường quang đâm vào bụi

Cũng là do nghiệp chướng đã xui nên

Nhân gieo rồi nay lại gặp thêm duyên

Thì quả hiện ai làm sao gỡ nổi.

Nhưng con ạ, do tâm gây nên tội

Hãy nhờ tâm mà rũ sạch hồng trần

Rồi mai này, khi vượt khỏi mê tâm

Con lên núi, thầy vẫn luôn trông đợi.

Giây oan nghiệt, con hãy lo tự cởi

Nhìn cho ra mà tự độ lấy thân

Thầy xưa kia vì mê muội giả chân

Nên cũng đã có lần xin xuống núi.

Nguyễn Đức Hiếu

Thắm thiết sư đồ

Đại thọ mừng thầy chín chục rồi,

Thầy trò hội ngộ chốn quê người.

Trải bao giông tố tình thâm gợi,

Qua mấy tang thương nghĩa đậm khơi.

Kiến thức thầy trao hằng giúp Nước,

Tài năng thầy dạy đã xây đời.

Cho dù Tổ Quốc cơn nghiêng ngửa,

Thắm thiết sư đồ mãi chẳng thôi.

HS HNC 58-65 Tha Nhân TCL kính hoạ

Lưu niệm

Thoáng qua cửu thập tuổi trên đời,

Xa cách trường xưa dạ nhớ ơi.

Trái đất nửa vòng ôm tiếc nuối,

Phong thư một lá gánh sầu khơi.

Hình kia cất dấu bao lưu niệm,

Mang bóng thầy trò rải khắp nơi.

Mai huyền Nga.

Tác họa

Thoảng qua chín chục tuổi trên đời,

Xa cách trường xưa dạ chẳng lơi.

Hình kia ấp ủ bao kỷ niệm,

Dáng nọ bày phơi vết cuộc đời.

Trái đất nửa vòng ôm tiếc nuối,

Quê người một cõi gánh sầu khơi.

Hôm nay chung hưởng ngày thượng thọ,

Mối tình sư đệ sẽ chẳng vơi.

Cóc Tu

Tháng Sáu 2007

Mừng thầy thượng thọ

Chín mươi tuổi trẻ có già đâu

Rũ áo phong sương mặc dãi dầu

Rèn trẻ trăm năm xây nghiệp lớn

Nên người muôn kiếp nhớ ơn sâu

Tâm hiền “Xuống Núi” lời còn vọng*

Mộng lớn dời non chí vẫn cầu

Cách trở đường xa xin kính bái

Ân sư nghĩa trọng để nghìn sau.

Nguyễn Bá Chung (HNC 60-67)

* Bài thơ Hạ Sơn thầy làm vào khoảng năm 1965-66.

Thành quả sáng ngời

Kính chúc thầy Khang Thọ suốt đời,

Đàn con hãnh diện lắm thầy ơi!

Thành tâm hun đúc công như biển,

Nhiệt huyết vun trồng đức tựa khơi.

Nhân cách trang nghiêm vang mọi chốn,

Tính tình đôn hậu rạng nơi nơi.

Nhà tan Nước mất đành rong ruổi,

Thành quả thầy gieo vẫn sáng ngời.

Học sinh HNC

Tha Nhân Trần Chương Lương kính họa

Hội ngộ, chia ly

Hội ngộ rồi chia ly, cuộc đời vẫn thế

Dẫu lòng trời nồng nàn khát khao

Hay đêm mịt mùng lấp lánh ngàn sao

Nếu không có người cuộc đời trôi về đâu

Nếu không có người, mặt đất quá hoang vu.

Bạn tôi ơi, dù mai ngày cách xa

Mãi mãi diệu kỳ là tình thân chúng ta

Và tôi biết một điều thật giản dị

Càng xa anh tôi càng thấy thương anh.

Xin mến tặng bạn Hết và tang quyến

Phương trời xa khóc bạn

Đau buồn không nói được nên lời,

Một thuở hương xưa đã vụt rơi.

Cánh nhạn lìa bầy mơ góc biển,

Đàn chim rơi lệ khóc ven trời.

Đầu xanh thuở trước đầy hoan lạc,

Tóc trắng giờ đây nghẹn tiếng cười.

Ly biệt hai phương trời cách trở,

Khôn cầm nước mắt, xót thương ơi.

Anhdo

Chúc bạn ra đi

Thương tiếc cho nhiều nuốt lệ thôi

Bạn tôi thực sự đã xa rồi!!

Nồng nàn ngày cũ vương trong trí

Thắm thiết xưa kia giọt lệ rơi

Bỏ lại trần gian nhiều luyến nhớ

Mang theo âm cảnh một chia phôi

Vô thừng ắt đến không ai thoát

Chúc Bạn Ra Đi lắm thảnh thơi!!!

Tha Nhân TCL, đồng môn HNC 58-65

Chúc bạn Trưu vân du tiên cảnh.

Thôi thế cũng đành giã biệt thôi,

Thân thương ngày ấy thoắt xa rồi.

Người đi sương gió trao tâm sự,

Kẻ ở phong trần khóc rụng rơi.

Vẫn biết biệt ly là định mệnh

Mà sao nhung nhớ chẳng pha phôi

Sắc không không sắc mầu trần thế

Tiên cảnh vân du,chúc thảnh thơi

Anhdo

TRỪU ơi thôi đã thôi rồi

Nước mây man mác ngậm ngùi lòng đau.

Nhớ từ thuở chung nhau một lớp

Bạn với tôi hai đứa học chung

Đùa vui nghịch ngợm trong trường

Thi đua đèn sách mong tròn tương lai.

Thế rồi xa cách mãi thôi

Bạn nơi đất mẹ tôi nơi xứ ngươì

Ngàn trùng cách biệt xa vời

Ai người tri kỷ cho đời thêm vui…

Hai ngàn không bẩy về thăm

Nghẹn ngào không nói đăm đăm cúi nhìn.

Bạn tôi không đứng chỉ nằm

Mắt tôi hoen lệ nỗi lòng quặn đau.

TRỪU tôi ánh mắt đón chào

Âm thanh giọng nói ngọt ngào tình thương.

Mơ về khúc hát tương phùng

Đồng môn thuở trước lại về đoàn viên.

Ai ngờ tiếng sét phũ phàng

Tim Trừu ngừng đập ngỡ ngàng môn sinh.

Thach Nguyen

Nhớ bạn

Đã biết rồi đây sẽ đến ngày,

Tóc tang phủ kín thảm thương thay

Tin đưa buổi sáng như giông bão.

Cánh nhạn hồi hôm đã lạc bầy

Mái tóc phong sương vừa lỗi hẹn,

Bờ vai trĩu nặng thoắt hao gầy

Vẫn mơ một sớm trên quê cũ,

Các bạn năm châu lại xum vầy.

Anhdo

Giáng Sinh một mình

Tháng này trời xanh không em

Đây không đông giá cũng biêng biếc chiều

Đầu cành quả mọng khẳng khiu

Muốn bao nhiêu cũng chắt chiu đợi chờ

Giáng Sinh đơn chiếc, thẫn thờ

Em nơi rét buốt, anh bờ cô liêu

Xóm chài chết nắng quạnh hiu

Anh đem nhung nhớ trải đều không gian

Cho trời đất đỡ khô khan

Để anh ôm bóng mây ngàn non xa

Biển chiều thăm thẳm bao la

Một màu em tím thướt tha vạt tình

Hoàng hôn trở vội gót nhanh

Bỏ hư không lại cùng anh trước thềm

Nến gầy lặng chảy thâu đêm

Làm sao gửi được về em giọt hồng

Sóng xa dỗ giấc phiêu bồng

Tình ta xuôi bến tơ lòng trăm năm

Mũi Né, 24/12/06

Bùi Đức Hào

Cũng chẳng gì

Chẳng gì lưu luyến ở nơi này!

Ghét xích chê cùm mới tới đây

Xé ruột bầm gan đành bỏ hết

Quay lưng cất bước tưởng chừng bay.

Lặng lẽ cuộc đời lững thững trôi

Xuôi dòng con nước chảy khôn thôi

Lầm than rồi cũng quanh co mãi

Ngó lại lòng vương chút ngậm ngùi.

Nghe chừng trong gió vọng hồi âm

Thất thế sa cơ gãy cánh bằng

Đất đổ trời nghiêng người lữ thứ

Đành ôm mối hận khóc cùng trăng.

Trăng tỏ không chia được nỗi buồn

Gượng cười cố nén giọt sầu tuôn

Thời gian hờ hững bôi nhoà hết

Dấu tích nhân sinh cuộc hý trường.

Ta có là chi có đáng chi

Một trong muôn một có ra gì

Mất rồi một thuở bao hào khí

Những bá cùng vương cũng chẳng gì!

Cam Thành, July 9, 2007

Tha Nhân

Bạn hiền thưởng Xuân

Vui Xuân kẻo hết xuân đi,

Gái già sồng sộc, nó thì theo sau!

(Văn Nghệ Tiền Phong năm xưa)

Tuổi già luẩn quẩn trước, sau nhà,

Đầu Xuân chờ đợi bưởi ra hoa.

Quỳnh lan hé nhụy, khoe màu thắm,

Hạnh quả đầy hoa, lộ sắc ngà.

Trời thanh, mây trắng, chim ríu rít,

Đất mát, nước trong, cá lững lờ.

Sáu bó lo gì tranh đua nữa,

Luẩn quẩn cho qua cái tuổi già.

Thân tặng VTH

Cóc Tu, tháng Tư, 2007

Chuyện yêu

Đang ngồi ngáp, nhận được thư bảo rằng:

“Viết bài đi cho kịp số mười lăm”,

Đầu trống rỗng, “ki-bọt” không chữ Việt,

Nên tầm phào viết vài chữ yêu thương:

Chuyện yêu thương đâu phải là chuyện chơi,

Chuyện nhớ nhung, chuyện đau nhói trong người,

Nhưng ráng viết dù nhiều hay dù ít,

Miễn là có thêm bài để vẽ voi!

Chuyện rằng:

Có người yêu: chỉ một lần rồi chết,

Có người yêu: đếm hết cả hai tay,

Có người yêu: quên cả năm, tháng, ngày,

Có người yêu: chỉ một đêm quên tiệt.

Chuyện yêu đương kể 4 câu sao hết,

Nên phạng thêm một chút để dài ra,

Cũng không thể vá ruột non, ruột già,

Vì yêu là chết (ở) trong lòng một ít.

23-Oct-2007

Hết nợ

Leave a Reply